Chương 3: Đấu khí đấu dũng

Nghe truyện

Chương 3: Đấu khí đấu dũng

Vào đêm thứ ba, khi ánh trăng yếu ớt xuyên qua lỗ thủng trên mái lá, rọi xuống một vệt bạc mờ ảo, Liễu Vô Trần giơ thanh đao lên.

Lớp rỉ sét cứng đầu đã biến mất. Thay vào đó, là ánh thép xám lạnh lẽo. Nó không sáng bóng như những thanh đao trong phim ảnh hắn từng xem, nó mờ đục, lốm đốm những vết rỗ, nhưng phần lưỡi...

Hắn cẩn thận dùng ngón tay cái lướt nhẹ qua. Một cảm giác sắc bén, lạnh lẽo truyền đến, khiến da hắn nổi da gà.

Hắn vội rụt tay lại. Một vệt máu nhỏ ứa ra.

Đau

Nhưng hắn lại mỉm cười, một nụ cười gần như không thể nhận ra trong bóng tối.

Sắc bén. Đủ rồi.

Hắn cẩn thận lau sạch thanh đao bằng một miếng vải rách, rồi giấu nó vào chỗ bí mật nhất trong nhà - một cái hốc nằm sâu dưới đống rơm rạ mà hắn dùng làm giường ngủ.

Hắn liếm vết đứt trên ngón tay. Vị máu tanh nồng.

"Từ hôm nay," hắn thầm nhủ, linh hồn già cỗi thì thầm trong lồng ngực non nớt, "Ta sẽ bắt đầu sống, thực sự sống."

Cơ thể này mười tuổi, quá yếu ớt. Hắn cần thức ăn. Cần thịt. Cần năng lượng.

Và trong khu rừng rậm bên ngoài kia, có hy vọng của hắn.

Khu rừng rậm bao bọc lấy cái thôn này vừa là nguồn sống, vừa là nơi chôn cất. Dân làng gọi nó là "Màn Rừng U Ám". Họ chỉ dám ở rìa rừng, nhặt nhạnh chút củi khô, hái chút nấm dại. Chỉ có những thợ săn kinh nghiệm nhất mới dám cầm theo giáo mác, lập thành đội nhỏ đi sâu hơn một chút, nhưng cũng không ai dám ở lại đó qua đêm.

Họ sợ dã thú. Họ sợ hổ báo, sợ lợn rừng lồng lộn, sợ những đàn sói hoang hú vang mỗi đêm trăng tròn.

Liễu Vô Trần cũng sợ.

Lý trí của hắn, kinh nghiệm của một người trưởng thành, nói cho hắn biết, với cái cơ thể mười tuổi gầy nhom này, xông vào rừng rậm không khác gì tự sát. Con dao rỉ sét kia có thể giúp hắn đối phó với một con thỏ, nhưng gặp phải một con lợn rừng, nó chỉ như một cái tăm xỉa răng.

Hắn mười tuổi, hắn không có cái năng lực kia. Hắn phải dùng trí óc.

Hắn không xâm nhập sâu. Hắn chỉ hoạt động ở ven rừng, nơi hắn đã bỏ ra ba tháng trời để quan sát và thuộc lòng từng gốc cây, từng lối mòn.

Hắn không trực tiếp đi săn. Hắn làm bẫy.

Đây là lúc mà tư duy của một người hiện đại, dù không còn kiến thức khoa học cao siêu, vẫn phát huy tác dụng. Hắn không biết chế tạo súng, nhưng hắn hiểu về cơ học đơn giản, về thói quen sinh hoạt của động vật.

Hắn tìm những sợi dây leo dẻo dai nhất, loại dây mà dân làng hay gọi là "dây phanh" bện chúng lại thành những sợi nhỏ nhưng cực kỳ chắc chắn. Hắn tìm những cành cây có độ đàn hồi tốt.

Hắn làm bẫy thòng lọng. Hắn làm bẫy đập.

Những ngày đầu tiên, hắn thất bại thảm hại. Thòng lọng bị tuột, bẫy đập không đủ lực, hoặc mồi bị ăn mất mà bẫy không sập.

Hắn không nản lòng. Một linh hồn già cỗi không thiếu sự kiên nhẫn.

Hắn quan sát. Hắn sửa chữa. Hắn điều chỉnh.

Và rồi, thành quả đầu tiên cũng đến.

Một tuần sau khi thanh đao được mài sắc, khi hắn đi kiểm tra một cái bẫy thòng lọng đặt trên lối mòn quen thuộc của đám chuột, hắn thấy sợi dây đã bị giật căng.

Một con chuột rừng, to gần bằng bắp tay, đang bị treo lơ lửng, giãy giụa trong tuyệt vọng.

Tim Liễu Vô Trần đập mạnh một cái. Không phải vì sợ hãi, mà là hưng phấn.

Hắn rút thanh đao giấu trong ống quần ra. Ánh thép xám lạnh lùng lóe lên. Hắn không do dự. Một nhát chém gọn gàng.

Đêm đó, trong căn nhà lá rách nát, lần thứ hai có canh thịt hầm. Hắn ăn ngấu nghiến. Hắn xé từng miếng thịt chuột béo ngậy, nhai ngấu nghiến, cảm nhận dòng năng lượng ấm áp lan tỏa trong cơ thể. Hắn đói quá lâu rồi.

Cơ thể này cần thịt.

Hắn bắt đầu kế hoạch của mình một cách có hệ thống. Hắn chia khu vực ven rừng thành nhiều ô nhỏ, luân phiên đặt bẫy, tránh cho con mồi bị cảnh giác,đương nhiên điều quan trọng nhất là che giấu cái bẫy khỏi có ai biết được sẽ hoẵm tay trên của hắn.

Thỉnh thoảng, hắn bắt được chuột rừng. Thỉnh thoảng là gà rừng. Và may mắn nhất, là thỏ.

Những con thỏ rừng lông xám, nhanh nhẹn, nhưng vẫn không thoát khỏi những cái bẫy ngày càng tinh vi của hắn.

Hắn bắt đầu có thịt ăn mỗi ngày.

Cơ thể biến chuyển từng ngày.

Da dẻ hắn không còn xanh xao, tái nhợt nữa, mà bắt đầu có chút hồng hào. Cơ bắp, dù vẫn còn mỏng, nhưng đã săn chắc hơn. Hắn không chỉ ăn, hắn còn rèn luyện thể lực.

Mỗi sáng sớm, khi sương còn chưa tan, hắn đã tại trong gian nhà nhỏ bốn bức tường nhảy cò dò,hít đất đơn giản một số động tác. Hắn đang chuẩn bị. Hắn không biết mình chuẩn bị cho cái gì, nhưng lý trí mách bảo hắn, phải luôn khiến bản thân mạnh mẽ hơn.

Và hắn rất cẩn thận. Hắn không bao giờ để lộ việc mình có thịt ăn. Hắn xử lý con mồi ngay trong rừng, chỉ mang về những phần thịt đã được cắt nhỏ. Hắn luộc thịt chứ không nướng,hầm trong nồi đất còn có nắp có thể che giấu mùi thịt bay xa.

Hắn vẫn đóng vai một đứa trẻ mồ côi gầy yếu, lầm lũi.

Và hắn bắt đầu tích trữ.

Hắn dần dần ăn không ăn hết. Thịt thỏ, thịt gà, hắn lóc xương, ướp muối (thứ muối hắn lén lút đổi được bằng vài quả trứng gà rừng) rồi phơi khô, gác lên bếp.

Và quan trọng nhất, là da thú.

Hắn không biết cách thuộc da chuyên nghiệp, nhưng hắn biết cách lột da sao cho không rách, và phơi chúng trên những cái khung tre.

Sau một tháng, hắn đã tích góp được vài bộ da thỏ hoàn chỉnh và mấy bộ da chuột rừng khá đẹp.

Đúng lúc này, một tin tức truyền đến cái thôn hẻo lánh này, khiến cả làng xôn xao.

Nửa tháng nữa, sẽ có "dân đoàn bão đoàn" đi Thạch Thành.

Thạch Thành, cái thành trấn gần nhất, cách đây hai mươi kilomet đường rừng. Đối với dân làng, đó là nơi phồn hoa đô hội, là nơi duy nhất họ có thể bán đi những sản vật của núi rừng (như nấm, mộc nhĩ, da thú) và mua về những thứ quý giá như muối, vải vóc, và quan trọng nhất, là đồ sắt.

Đây là một chuyến đi lớn, thường thì một năm mới có một lần. Dân làng phải tập hợp lại (bão đoàn) thuê những thợ săn giỏi nhất đi bảo vệ, mới dám mạo hiểm đi qua khu rừng đầy rẫy nguy hiểm đó.

Trái tim Liễu Vô Trần đập mạnh.

Cơ hội. Cơ hội để hắn rời khỏi cái ao tù này.

Hắn muốn đi. Hắn phải đi,ở đây có thể sống an nhàn,nhưng không biết nguy hiểm khi nào buông xuống,lúc đó là tính mạng không khỏi cá nhân.

Càng chưa nói hắn cỗ thân thể này tuy nhỏ nhưng ở trong mắt người lớn giá trị lại cao hơn người trưởng thành,đơn giản là tư tưởng chưa khai phóng,dễ dàng đào tạo.

Nhưng đi theo đoàn không phải là miễn phí. Hắn phải có thứ gì đó để trao đổi, hoặc phải trả tiền lệ phí cho những người bảo vệ.

Hắn nhìn mấy bộ da thỏ mình tích góp được.

Hắn bắt đầu hành động.

Hắn không đợi đến Thạch Thành mới bán. Hắn bán ngay trong làng.

Người hắn tìm đến là Lão Lý, một thợ săn già duy nhất trong thôn có một cái bẫy gấu bằng sắt. Ông ta là người có uy tín, và cũng là người giàu có nhất thôn.

Liễu Vô Trần mang theo ba bộ da thỏ đẹp nhất, đến nhà Lão Lý vào lúc chập tối. Hắn vẫn giữ vẻ mặt rụt rè, sợ hãi.

"Lý... Lý gia gia..." Giọng hắn lí nhí. "Cháu... cháu có được mấy tấm da thỏ ở ven rừng. Cháu muốn đổi lấy ít tiền đồng.Lão Lý, một ông già quắc thước, nheo mắt nhìn hắn, rồi nhìn mấy tấm da thỏ. Da được lột rất khéo, không một vết rách.

Một đứa trẻ mồ côi, tự mình sống sót được ba tháng, không thể là một đứa trẻ bình thường. Lão Lý biết điều đó, nhưng lão không quan tâm.

"Da tốt. Không rách." Lão lật qua lật lại. "Nhưng cũ rồi. Cho mày một trăm hai mươi đồng. Đủ chưa?"

Liễu Vô Trần biết mình bị ép giá. Ba bộ da thỏ này, nếu đến Thạch Thành, ít nhất cũng phải được hai trăm đồng. Nhưng hắn không có lựa chọn.

Hắn gật đầu, ra vẻ mừng rỡ: "Đa tạ Lý gia gia! Đa tạ Lý gia gia!"

Hắn nhận lấy chuỗi tiền đồng nặng trĩu. Hơn trăm tiền đồng. Đây là số tiền lớn nhất mà hắn từng có trong hai kiếp.

Hắn dùng số tiền này, mua một ít lương khô, một cái túi vải chắc chắn, và nộp lệ phí cho người dẫn đoàn.

Nửa tháng sau, đoàn người xuất phát.

Đoàn có khoảng ba mươi người, mười người là thợ săn tinh nhuệ mang cung tên, giáo mác, còn lại là dân làng mang theo hàng hóa. Liễu Vô Trần, là đứa trẻ duy nhất, lọt thỏm trong đoàn, cái gùi tre nhỏ sau lưng, thanh đao giấu kỹ trong lớp áo rách.

Hành trình hai mươi kilomet, bọn họ phải đi mất ba ngày.

Và đó là ba ngày địa ngục.

Con đường mòn nhỏ hẹp, lẩn khuất dưới những tán cây cổ thụ che khuất ánh mặt trời. Không khí lúc nào cũng ẩm ướt và nặng nề.

Sự hung hiểm của rừng rậm lúc này mới thực sự lộ rõ.

Đêm đầu tiên, khi bọn họ dựng trại, tiếng sói tru (sói hoang) vang lên từ bốn phía. Tiếng tru gần đến mức khiến ngọn lửa trại cũng phải run rẩy. Đám đàn ông phải thay phiên nhau canh gác, tay nắm chặt vũ khí, không ai dám ngủ. Liễu Vô Trần cũng không ngủ, hắn ngồi dựa vào một gốc cây, tay nắm chặt chuôi đao, lý trí của hắn gào thét cảnh báo nguy hiểm, nhưng cơ thể mười tuổi của hắn lại đang run rẩy không ngừng.

Sang ngày thứ hai, bọn họ đi qua một bãi đất trống. Trưởng đoàn, Lão Lý, đột nhiên giơ tay ra hiệu dừng lại.

Trên mặt đất, là những dấu chân. Dấu chân rất lớn, rất sâu.

"Là dấu chân Hổ!" Lão Lý thì thầm, mặt tái đi.

Cả đoàn người hãi hùng. Ngay cả những thợ săn dày dạn kinh nghiệm nhất cũng nuốt nước bọt ừng ực.

Họ không dám đi tiếp, cũng không dám lùi lại. Cuối cùng, Lão Lý quyết định đi vòng, một con đường vòng xa hơn, nhưng an toàn hơn.

Không chỉ có dã thú.

Vào buổi chiều ngày thứ hai, khi họ đang đi qua một khe núi hẹp, một mũi tên bỗng nhiên "vút" một tiếng, cắm phập vào thân cây ngay trước mặt người đi đầu.

"Sơn tặc!" Lão Lý hét lên.

Cả đoàn người hỗn loạn. Đám dân làng la hét, vứt cả hàng hóa, định bỏ chạy.

"Đứng lại! Trận hình!" Lão Lý gầm lên, rút đao ra. "Chúng chỉ có vài tên! Chống cự thì sống!"

Những người thợ săn lập tức vây quanh dân làng, giương cung tên về phía rừng rậm.

Liễu Vô Trần bị kẹp ở giữa. Hắn sợ đến mức tim như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Đây là lần đầu tiên hắn đối mặt với sự tàn khốc của con người ở thế giới này. Sói hoang, hổ báo... cũng không đáng sợ bằng những mũi tên bắn lén này.

Hắn nơm nớp lo sợ, tay nắm chặt chuôi đao, sống lưng lạnh toát.

May mắn thay, bọn sơn tặc dường như chỉ muốn dọa dẫm, cướp đường. Thấy đoàn người này có phòng bị, không dễ ăn, chúng hét lên vài tiếng chửi rủa rồi rút lui.

Cả đoàn người ngồi phịch xuống đất, thở hồng hộc.

Ba ngày bôn ba, cuối cùng cũng kết thúc. Khi bức tường đá màu xám khổng lồ của Thạch Thành hiện ra ở phía xa, tất cả mọi người đều bật khóc.

Liễu Vô Trần cũng thở phào nhẹ nhõm. Hắn ngẩng đầu.

Thạch Thành..