Chương 24:【Cất cánh bay xa, lệ rơi cõi lòng】(1)
— “Tiên xuất noãn thời đổng phi phi, hậu nhập thổ thì hoài cố khi.”
…..
Mưa rơi tầm tã trong tiết trời nóng nực, không khí mang theo mùi đất ẩm ướt với mùi tươi mát.
Những căn nhà rơm sập sệ cong lưng trong hoàng hôn mờ mịt, cây đa già im lìm không còn sức sống. Tường giếng vỡ nát, rong rêu với bụi mù bám cả lên.
Chim sẻ không còn hót líu lo, chui rút trong chiếc tổ lung lay tránh họa.
Khung nhà gỗ cháy sém dập tắt trong màn mưa trắng xóa cả bầu trời. Lũy tre già nghiêng thân che măng nhỏ, mong mưa qua sẽ đâm chồi thêm cao.
Đường đất dưới chân đã thành vũng bùn trơn trượt, hòa chung với sỏi đá đau chân.
Con đê ven trấn bị sạt lở, ắt hẳn năm nay lại là một năm lụt lội.
Một đứa trẻ khó nhọc đi trong màn mưa nặng, máu tươi trên người bị gột rửa, xối đi dơ bẩn nhưng lại ồ ạt cơn đau. Mái tóc đen bết dính chặt vào làn da ngăm ngăm. Thân hình gầy gò chống đỡ xuyên màn mưa, hai tay che đầu như ô dù bung xõa.
Ngón chân nó quắp vào bấu chặt lấy đường đi, khuôn mặt kiên nghị, đến mưa gió cũng chẳng che, chẳng thổi được.
Đằng tây kia, tia nắng màu cam vàng vẩy xuống đại địa, nhưng lại không tới tay được đến cái vùng Đúc Châu trầm mặc này. Nhà nhà đều đóng cửa chẳng ra ngoài, thôn quê hoang vắng như không có người ở, tiếng reo đứt quãng của ai đó bị màn mưa xóa nhòa đi.
Quần áo bạc màu bị mưa gió nhàu nát, đứa trẻ kia vẫn không hề để ý, chỉ một mạch đi vào một mái nhà tranh đang ẩm dột.
“Tí — tách —”
Nước mưa chen qua lỗ thủng, rơi cái tõm vào bát nước đầy.
Hàng rào gỗ quanh nhà bị gió tinh nghịch hất đổ, vườn rau, vườn cà cũng bị dẫm đạp không thương tiếc.
“Lại không có đồ ăn…” - Đứa trẻ lẩm bẩm.
Thân nó đội cả dáng vẻ phong trần mệt mỏi, tròng mắt đen sâu hoắm tĩnh mịch.
“Đến, đến! Về rồi à con? Có làm sao không? Có bị thương ở đâu không?” - Một người phụ nữ tương đối trẻ bỏ nồi bỏ bếp chạy đến bên đứa trẻ, không ngừng vuốt ve cả người con mình, như để chắc mẩm rằng nó không hề có vết thương nào.
Đứa trẻ đối diện với u của mình, rút đi vẻ mệt mỏi, mà thay vào đó một nụ cười tươi rói. Răng nói vàng ố, có cái thì đen, trông thật buồn cười. Nó lễ phép lên tiếng chào u nó, ôm một cái thật to:
“Con chào u ạ.”
“Ừ, ừ, mau vào, mau vào, u đun nước nóng cho con rồi đấy. Nhanh nhanh làm ấm người kẻo trúng gió bây giờ.” - Người phụ nữ, hôn nhẹ vào trán con mình, đẩy nó đến bên cạnh chậu nước nóng - “Sau này thấy trời sầm lại thì phải chạy về nhanh, cố vớt thêm vài con cá để làm gì.”
Người phụ nữ lấy một cái khăn khô, nhúng vào nước, vắt sạch, rồi cẩn thận lau từng tí trên cơ thể con mình.
Khi lau đến cái cổ nó, xuống xương quai xanh, động tác của người phụ nữ bỗng ngừng lại.
Con mình gầy quá.
Hốc mắt người phụ nữ cay cay. Chị cố nén nước mắt lại, vì thầy nó còn đang ở ngoài chiến trường, không về được, cả nhà chỉ có mỗi chị gánh vác. Giờ chị yếu đuối thế này, làm sao chống lên cho đứa bé này một mái ấm bình an?
Chị chỉ còn mỗi đứa con này thôi, những đứa khác đều đã chết đói trên quãng đường nhân sinh chưa kịp đi hết của chúng, có đứa lại rẽ đi sang một con đường khác, khi chị vô năng chẳng thể đóng đủ sưu thuế, phải “tạm gửi” con mình cho nhà khác nuôi cho.
Đứa trẻ nhạy cảm phát hiện hốc mắt u mình đỏ lên trong không gian thiếu thốn ánh sáng. Nó trầm mặc vỗ nhẹ vào vai u nó, tay hơi run, còn một tay kia buông thõng xuống, nắm chặt. Móng tay lởm chởm bấu vào da thịt, hòa với máu đỏ là đất cát bụi bẩn, hòa với gió sương là ánh mắt quyết tâm của đứa trẻ.
Nước mắt khẽ khàng buông con mắt, chảy xuống đôi má gầy còn hao hao hồng. Vai hạc run run, hàng mi như cành lá buổi sương sớm.
Môi chị mím chặt, để mình không phát ra tiếng nức nở.
Đang lúc chị định lau tay cho con, đứa trẻ lại nhất quyết không cho chị vén lên.
Cảm nhận được có gì đó không ổn, chị vạch tay áo nó ra. Bàng hoàng, chị sững người ngồi xổm trên đất. Vết rạch dài trên cánh tay con làm chị choáng váng.
Sắc mặt đứa trẻ trở nên lúng túng, tay chân luống cuống chẳng biết làm sao.
U của nó im lặng, nước mắt ngừng lại.
Vắt khăn vào thành chậu nước, u nó mặc thêm cái áo bà ba bên ngoài cái yếm, đội cái nón mê đi ra ngoài trời. Trước khi đi, u nó còn dặn:
“Con ở yên trong nhà, u đi mời thầy lang về cho con.”
Mưa gió nuốt mất thân gầy của u nó, chỉ để lại một khoảng vắng trong lòng.
————
Qua một lúc, trời còn chưa tạnh, u của đứa trẻ về, với một người đàn ông nom ba mươi tuổi. Mắt gã nhỏ, híp vào. Mặt dài, môi mỏng, tai chuột.
Trông chẳng đáng tin chút nào.
Đứa trẻ vừa gặp người này lần đầu tiên, đã sinh ra một cảm xúc chán ghét và xa cách.
Đứa trẻ chỉ muốn tránh xa người này, nhưng u nó bảo phải ngoan cho thầy lang khám. Kỳ thật, đứa trẻ muốn hỏi u nó một điều:
— Nhà mình làm gì còn tiền để trả cho người ta?
Vấn đề này xoay quanh đầu nó mãi, cho đến khi gã thầy lang kia về rồi, nó còn chẳng để ý kịp.
Tối đến, u nó mang lên một bát cháo loãng với hành. Đứa trẻ nhìn bát cháo, hỏi u nó: “U ơi, sao chỉ có một bát ạ?”
Sắc mặt u nó tiều tụy, cười gượng đáp: “U ăn rồi, đây là bát của con — Thằng này, hỏi nhiều thế làm gì? Cứ ăn đi, ăn cho có sức để mai ra ngoài nhặt xem có con cá mắc cạn nào không.”
Nó nhìn chằm chằm u nó, rồi lại nhìn về phía bát cháo hành loãng, ăn từng miếng, từng miếng. Nó ăn rất chậm, một bên ăn, một bên nhìn u nó vất vả ngồi bên khung cửi như mọi ngày.
Nó không hiểu sao bát cháo hành này loãng thế, có lẽ là u nó cho nhiều nước quá, hay là nước mắt nó làm cho cháo loãng ra chăng?
Nó không biết được, nó chỉ có thể im lặng ăn.
Nó chưa thể giúp gì nhiều cho u nó, nhưng không sao, chờ nó học hành đèn sách xong rồi đỗ đạt, nó sẽ cho u nó một cuộc sống vô lo vô nghĩa và yên bình.
Trời tối hẳn, mưa mới chịu tạnh, hơi mát theo gió lùa vào ngôi nhà đơn sơ, ru ngủ đứa trẻ mệt mỏi. Mặt nó trắng bệch, mày nhíu lại, mắt nhắm nghiền.
Coi vẻ đêm hè này cũng không nóng lắm.
Người phụ nữ nằm bên con mình trên phản, tay mỏi nhừ phe phẩy chiếc quạt mo.
Bụp — bụp — bụp —
Bỗng, tiếng đập cửa vang lên bên ngoài ngôi nhà, người phụ nữ giật thót mình ngồi dậy, cẩn thận dùng chăn che giấu con mình, rón ra xuống phản tiến về phía cửa. Đứng trước cửa, người phụ nữ nắm chặt lấy thanh gỗ chen ngang, e dè mở miệng hỏi:
“Ai đến lúc đêm khuya khoắt thế này ạ?”
Người phụ nữ cố tình cao giọng, có ý xua đuổi người đến đi.
Nhưng người bên ngoài cũng không theo ý bà mà đi, cất lời, là một giọng nói quen thuộc:
“Thị Ánh hả em? Là tôi, thầy lang chiều nay đây, tôi về nghĩ lại thấy cháu nó có vết thương nặng thế, cố ý mang thuốc tới chữa cho, không thì sợ một tay đó của nó phế đi, không làm được cái việc gì.”
Thời đại này, không, không đúng, là những kẻ ở dưới này. Cái mạng của họ không quan trọng, nó chẳng đáng bao đồng. Nhưng sức lao động thì rất quan trọng, nếu đi làm cho địa chủ, có nhiều thể lực thì mới có thể làm tốt, làm tốt thì mới có thể mang lại nhiều tiền về.
Còn bị phế mất một tay, không bằng đi làm ăn xin, tha hương cầu thực cho đỡ vất vả tấm thân mẹ cha.
Người phụ nữ sót con đau, nào mong muốn để đứa trẻ phải chịu cảnh nhiều người nhìn vào dèm pha? Chị còn mong con có thể thi đỗ đạt, tay phải phế mất rồi thì làm sao cầm bút để viết được nữa?
Nghĩ vậy, người phụ nữ nhanh chóng mở cửa ra, yếm đào lỏng lẻo với cái quần nái đen miễn cưỡng che đi cơ thể gầy guộc, chị đứng qua một bên mời thầy lang vào. Chưa kịp đi gọi con dậy, cổ tay của người phụ nữ đã bị thầy lang nắm chặt.
Trong ánh trăng mờ ảo của thi nhân, người phụ nữ hốt hoảng quay người lại, định tránh ra và hét lên, nhưng gã thầy lang lại bịt miệng người phụ nữ lại, gằn giọng đe dọa:
“Thị Ánh, mày khôn hồn thì biết điều vào. Ông đây không chữa miễn phí cho cái loạt rách nát nhà mày, đưa ra một cái giá hợp lý thì ông còn chữa cho, không thì không chỉ mất công ông đến, mà con mày cũng chẳng viết lách gì được nữa.”
Thị Ánh cố vùng vẫy thoát khỏi sự khống chế của gã thầy lang, nhưng mình mẩy vốn đã gầy guộc, da lại xanh xao, chống thế nào lại một người đàn ông trưởng thành cơm áo đầy đủ?
Lắc đầu, Thị Ánh ra hiệu mình chẳng có tiền. Gã thầy lang híp mắt lại, con mắt vốn đã bé sẵn của gã giờ chỉ như một đường kẻ.
Một tay bịt miệng, một cái nắm cổ tay, gã thầy lang dần dần mon men vào trong yếm, ghé vào bên tai Thị Ánh thì thầm:
“Đã mày không có tiền, hay là lấy cái cơ thể của mày để trả nhỉ? Chồng mày cũng đang vắng nhà, làm sao mà biết được?”
Gã xô Thị Ánh vào phản, khóa chặt chị lại. Trấn Hồng Trần có mỗi gã thầy lang này nguyện ý chữa trị cho đứa con nhà chị, giờ không nghe theo, con chị làm sao giờ? Tiền sưu làm sao giờ? Tiền thuế làm sao giờ? Tiền…
Thị Ánh cắn chặt răng, không để mình phát ra những tiếng đáng xấu hổ.
Nhưng gã thầy lang chẳng kiêng nể gì, dẫn đến đứa trẻ núp trong chăn bị tiếng động bừng tỉnh.
Những hình ảnh ghê tởm này vĩnh viễn in sâu trong tâm trí nó. Nó cắn chặt môi, không thể bản thân phát ra một tiếng kêu, không thể bản thân nôn ọe ra.
Đứa trẻ căng mắt nhìn thân hình một trai một gái chồng lên nhau trong đêm tối, nhìn gã đàn ông buông những lời nhục mạ u của mình, nhìn u chìm đắm trong đau khổ và khuất nhục.
Ánh mắt đứa trẻ lộ ra điên cuồng và bệnh hoạn, ý nghĩ muốn giết quách gã thầy lang quanh quẩn trong đầu nó.
Một đêm, hai đêm, và nhiều đêm nữa, đứa trẻ cảm thấy mình kìm nén không nổi nữa rồi.
Nó hận, nó hận, nó hận.
Những hình ảnh kinh tởm bị gã thầy lang khắc ghi vĩnh viễn vào trong lòng nó.
Và những lời thề sẽ bảo vệ u cũng được khắc ghi vĩnh viễn trong lòng nó.
— Vĩnh viễn.
Hè năm nay, lạnh quá.
————
Nắng mai đã lên, nhưng không còn là nắng mai rực rỡ, mà thay vào đó là một ánh nắng tồi tàn.
Nước mưa dâng lên khoảng mười phân, qua mắt cá chân của đứa trẻ.
U nó rã rời ngồi bên khung cửi, mang quầng thâm mắt quần quật cả ngày lẫn đêm.
Tu — tu — tu —
Tiếng từ và vang lên trong không gian buổi sáng tinh mơ, tiếng vó ngựa đạp nước phi nước đại qua thôn trấn nhỏ. Lính cai lệ vác cờ xí dài tượng trưng cho triều đình đến thu thuế.
Thấy cảnh này, con ngươi của đứa trẻ co rụt vào, nó không hiểu sưu với thuế là gì, nhưng nó biết, chỉ cần lính cai lệ đến, u nó liền không có cuộc sống yên ổn.
Quả nhiên, hai tên lính cai lệ đạp cửa vào nhà, giọng vênh váo hô to:
“Con Thị Ánh đâu? Có tiền nộp thuế không? Không có tiền nộp thuế thì hầu hạ ông đây cho tốt, ông xem xét cho mày tiền trả thuế!”
Giữa ban ngày ban mặt, tuyên dương những thứ linh tinh, Thị Ánh tái mắt lại, mắt ai oán nhìn về hai tên lính cai lệ.
Hàng xóm trong trấn đều biết chồng Thị Ánh bị bắt đi sung binh, lại còn phải làm những việc dơ bẩn này để lấy tiền nuôi con, cũng bất bình thay chị. Chỉ là, ai cũng kiêng dè tính hung hăng của bọn cai lệ, chỉ có thể nuốt cơn tức vào trong bụng, trơ mắt nhìn Thị Ánh bị kinh nhục.
“Các anh hẵng cho tôi trễ vài ngày, coi như thương xót tấm thân tôi, qua vài ngày tôi mang vải đi bán lấy đủ tiền, sẽ nộp thuế cho các anh.” - Thị Ánh mặt mũi lo sợ, theo bản năng để con núp sau mình, dịu giọng cầu xin lũ cai lệ.
Chỉ thấy cai lệ “á à” mấy tiếng, chẳng biết từ đâu mà lũ này lấy ra một cây roi da dài. Tên cai lệ vai vế lớn hơn bước lên trước, không nói đạo lý, quất thẳng roi vào người Thị Ánh, lên giọng quát:
“Mày có biết đó là thuế nộp cho triều đình không hả? Mày dám xin trễ thuế triều đình? Nếu ai ai cũng trễ như cái loại mày, thì quốc không ra quốc, pháp không ra pháp, là tội khi quân! Mày biết không!”
“Đúng đấy, không nộp thuế, một cái mạng của mày với con mày cũng không đủ cho bệ hạ nguôi giận!”
“E là con ranh này muốn trốn thuế nên không nộp đây mà!”
“Đúng đúng, con Thị Ánh, mày muốn chồng mày xảy ra chuyện sao!”
Theo tiếng quát của tên cai lệ dẫn đầu, những tiếng phụ họa lập tức theo sau.
Nghe thấy chồng mình khả năng xảy ra chuyện, Thị Ánh run bắn người, nước mắt rơi lã chã, chị nhịn đau bước đến tên cai lệ gần nhất, cầm lấy tay hắn cầu xin cho mình thêm một thời gian nữa:
“Ấy ấy, các anh cứ cho tôi thêm ngày mai nữa thôi! Đúng ngày mai nữa thôi tôi đảm bảo sẽ nộp đủ thuế! Các anh xem tôi chỉ còn mỗi con nhỏ này… không… bán được…”
Giọng chị nhỏ dần, cai lệ không có kiên nhẫn mà hất mạnh chị ra, hung hăng quát to:
“Mày đùa với ông đây à? Để đến mai? Đến mai cái đầu mày đã rơi xuống rồi!” - Gã nhìn người dân tụ tập xung quanh - “Làm sao? Nộp xong thuế hết rồi nên xía vào chuyện bao đồng sao? Ông nói cho biết, ai mà giúp con đĩ này, ông luận tội ông trảm luôn! Bây muốn phạm tội khi quân không!”
Bà con hàng xóm xung quanh nghe thấy thế, tái mặt lùi về sau, dù sao thì họ cũng đã nộp được xong thuế đâu. Trong nhà còn không có người đàn ông gánh vác, thuế này muốn trả kiểu gì?
Đã có những người thì thầm với nhau im lặng lùi đi, những người khác thấy bên cạnh mình trống trơn, cũng lúng túng lui hết. Mặt họ đều cúi xuống, không ngẩng lên nhìn Thị Ánh thêm lần nào.
Một khi đã chọn bỏ đi, thì chắc chắn sẽ không thể quay đầu lại.
Sự trầm mặc và chịu thua của họ khiến Thị Ánh bị đả kích, sững sờ ngồi thụp xuống kêu khóc:
“Ôi! Khổ thân cái thân tôi! Chồng thì ngoài biên cương không rõ sống chết, vợ ở nhà thì bị bắt nạt thế này! Tôi biết lấy đâu ra tiền mà trả! Thóc gạo cũng gán làm tiền trả thuế tháng trước, tháng này đã không còn gì ăn thì chớ, làm sao còn tiền mà trả đây! Ôi! Khổ thân cái thân tôi!”
Chát
Tiếng roi vung lên quật vào da thịt vang vọng trong không gian.
Thị Ánh hốt hoảng nhìn khuôn mặt của con mình xuất hiện trước mắt, vội vàng ôm lấy con mình.
Huyết nhục lẫn lộn vương vãi, máu tươi chảy xuống nền sân đất, xương sống lộ ra mà kinh người.
Bọn cai lệ cũng hoảng hốt, tên cai lệ vung roi lúng túng nhìn cảnh này.
Đứa trẻ ra sức cắn chặt môi, cảm thấy cơn đau như phô thiên cái địa ập đến chiếm hết lý trí, nhưng vẫn cố giữ tỉnh táo để bảo vệ u của mình.
“Tán đi tán đi, bắt nạt một người phụ nữ yếu đuối thì còn ra thể thống gì? Thôi thôi, nể mặt lão già này mà tha cho con bé đó thôi, tiền thuế tháng này tôi trả cho.”
Một giọng nói vang lên, cai lệ giật mình quay lại, hô:
“Minh Tùng phu tử đấy ư? Ngại quá ngại quá, chỉ là con mụ này —”
“Thôi.” - Minh Tùng phu tử cắt ngang lời tên cai lệ định nói - “Các chú còn định bắt nạt một người phụ nữ rồi rửa sạch bản thân à? Tản đi thôi, tản đi thôi, coi như tích đức, nể mặt lão già này.”
“Thế còn thuế —” - Tên cai lệ còn định nói tiếp, nhưng Minh Tùng Tử lại không do dự ngắt lời của hắn: “Tính hết vào đầu lão già này.”
Tên cai lệ nghe danh vị học giả này nức tiếng xa gần, không thể đắc tội, gã cười nịnh nọt: “Vâng, vâng, với lại ngài trông còn trẻ thế, sao đã là lão già được cơ chứ.”
Minh Tùng phu tử phẩy phẩy tay, đáp lại cho có: “Tứ tuần đã là già rồi.”
Đuổi đi lũ cai lệ, thầy lang mà Minh Tùng phu tử vừa gọi cũng kịp đến. Thầy lang già kinh ngạc nhìn đứa trẻ, nhanh chóng thực hiện nghĩa vụ của mình, nhưng vẫn không quên khen Minh Tùng phu tử một câu:
“Thế mà ông đoán trúng thật, đứa bé này thương nặng quá, may là tôi đến sớm chứ không là đi tong sinh mạng nhỏ này rồi.”
Cảm thán về cảm thán, thầy lang già cũng xử lý vết thương của đứa trẻ rất nhanh.
Khi thấy nguy cơ của u mình được giải trừ, tảng đá đè lên trên lòng của nó cũng rơi xuống, ngất lịm đi.
Trong khi mê man, nó dường như nghe thấy tiếng ai đó thì thầm:
“Lão cứu ngươi lần này, mong sao mai sau đừng đối xử tệ bạc với cái Lệ Tư…”
“Chỉ mong sao, mai sau ngươi đừng lạc đường…”
Mí mắt quá nặng, đứa trẻ căn bản không phân biệt được ai là người nói. Giọng nói đó rất xa lạ, lại mang theo một cảm giác yên tâm và mê hoặc.
Đứa trẻ chỉ cảm thấy mình đang bị một thứ gì đó kinh khủng nhòm ngó, nó mang theo ác ý vặn vẹo, cảm giác ngạt thở và bất lực trước vận mệnh, điên cuồng mê thất trong sự điên cuồng của chính mình.
Đứa trẻ nhíu chặt mày, ánh mắt nhắm nghiền, hoảng hốt như mình đã chạm đến một cái gì đó vượt ngoài tầm hiểu biết, khiến mọi thứ mà nó nắm giữ trôi vào hư vô.
Nó sợ hãi mở mắt dậy, cơn đau đớn xé da xé thịt ngăn cản hành động bật người dậy của nó. Liếc mắt nhìn sang bên cạnh, đứa trẻ thấy được u của nó đang lo lắng đến sốt gan cháy thịt trông nom mình, cảm giác mất tất cả như chưa từng xảy ra.
Tuy rằng đứa trẻ tự nhủ với mình đây chỉ là một cơn ác mộng, nhưng trực giác nói cho nó biết, hết thảy đều là sự thật.
Nó nhìn mẹ nó, đột nhiên cảm thấy người trước mặt thật giả tạo và không chân thực, nhưng đau đớn chiếm lĩnh lấy đầu óc nó, khiến đứa trẻ nhanh chóng thiếp đi.
Ánh nắng hoàng hôn lại vẩy xuống đại địa, lần này, tia nắng đã chạm đến được một đứa trẻ nhắm nghiền mắt ngất đi, có lẽ, cuộc đời của đứa trẻ sẽ hạnh phúc hơn.
Chỉ là, khi tia nắng tưới vào người nó chưa lâu, lại có một bóng dáng nho nhỏ chắn hết những tia nắng yếu ớt xuyên qua, đưa đứa trẻ trở lại về bóng tối.
—【Cuộc đời của ngươi, chú định sẽ trầm luân trong bóng tối】
Một câu này không biết toát từ đâu ra, đứa trẻ cũng không biết chữ, chỉ biết rằng, một câu mười hai chữ này, sẽ đeo bám đứa trẻ suốt cả cuộc đời, kéo nó vào hố sâu của tuyệt vọng.
Ngâm nó trong ác ý, nuôi nó sinh hận chí.
Đem nó gắn biệt ly.
Hương mẫu đơn cuối mùa rong chơi khắp gian nhà tranh, khiến lông mày đứa trẻ giãn ra.
Một đứa bé gái với hai chỏm tóc củ tỏi đứng trông trước phản, đôi mắt của nó ngập tràn sự tò mò và mới lạ. Nó tháo một bông hoa tường vi rắt bên tai của mình xuống, đặt bên đầu của đứa trẻ đang nằm.
Giọng nói trong trẻo và ngọt ngào vang lên: “Tặng cho anh gì đó nè, sớm khỏi bệnh đi chơi với em nha!”
“Lệ Tư, chạy đi đâu đấy?”
“Con đây, con đây!”
Theo giọng nói dần nhỏ lại, bóng người nhỏ nhắn kia biến mất, tia nắng hoàng hôn lại tưới xuống mặt đứa trẻ. Nó mở mắt ra, nghiêng đầu nhìn bông hoa tường vi bên cạnh mình, cố xê dịch người cầm lấy, để trước mũi ngửi thử.
Rất thơm.
Là mùi của sự sống, của hồn nhiên, của tuổi trẻ.
Và vương vấn lại một chút rung động trong lòng.
Lũy tre già đung đưa lá, theo gió nhảy điệu nhịp nhàng. Tiết trời quang đãng, mây trắng đan cầu vồng.
Sen trong hồ lay lay cùng múa, ánh nắng chan hòa xua đi nước đọng, hoan nghiêng một chương mới trong cuộc đời của một đứa trẻ.
Minh Tùng phu tử pha một chén trà, ngồi ngoài sân vườn, ôm cây đàn nguyệt của mình mà chơi. Trước mặt, Mai Lệ Tư vui vẻ đuổi theo bươm bướm màu xanh lam, đắm mình trong nắng vàng hoài cổ.
Vũ Thị Ánh ngồi bên gánh nước đi từ con giếng giữa trấn về, lau mồ hôi lấm tấm trên trán.
Chim sẻ lại đậu trên cành hót líu lo, hòa ca cùng tiếng sáo của trẻ chăn trâu trên đồng cỏ ngoài xa.
Chỉ là, xa xa có những đám mây đen đang tụ đến.
Từng đôi mắt đỏ như máu nhìn chòng chọc.
Vô thanh vô tức.
Ác ý nồng đậm.
————
Lập thu đến, vết thương trên người đứa trẻ đã lành hẳn. Không biết vị thầy lang già kia làm cách nào mà chữa trị được vết thương nặng như vậy.
Dưới hàng tre già, đứa trẻ dùng sức vung đao chặt dọc thanh tre, ý đồ biến nó thành từng thanh nan mỏng.
Cả cây tre bị đứa trẻ cắt làm bốn, rồi từ từ cặt bốn phần đó ra thành từng khúc nhỏ.
Phần trong của cây tre, cũng bị chặt bỏ đi.
Đứa trẻ dùng dao gọt vỏ ngoài của thanh tre, để nó chỉ còn lại màu vàng tươi hoặc ố.
Một bé gái yên lặng ngồi một bên, hiếu kỳ nhìn xem anh trai lớn tuổi hơn mình đang làm việc. Nàng chỉ biết anh trai này đang làm nan để đan thúng bán lấy tiền, còn về phần làm thế nào, quy trình ra sao, a, nàng không hề biết.
Mai Lệ Tư hỏi: “Anh Đổng Phi, sao anh phải đi làm nan ạ? Đọc sách không tốt sao? Làm nan dễ bị thương đến tay kìa.”
Lý Đổng Phi thoáng dừng một chút, buộc chặt vải cũ quấn trên ngón tay mình, cười cười: “Không sao, anh thích nghề truyền thống thôi. Với lại, anh định kiếm thêm chút tiền phụ u.”
Mai Lệ Tư bĩu môi, làu bàu: “Nghề truyền thống thì có gì tốt hơn đọc sách chứ? Kiếm được bao tiền đâu…”
“Lệ Tư, không được nói thế.”
Mai Lệ Tư: !
Mai Lệ Tư giật thót mình, chầm chậm quay đầu về sau, chỉ thấy Minh Tùng phu tử đang cười hiền từ nhìn nàng. Nhưng nụ cười này rơi vào trong mắt Mai Lệ Tư, chỉ làm nàng cảm thấy như mình vừa làm sai việc gì bị túm đuôi.
Minh Tùng phu tử cốc nhẹ vào đầu nàng, ngồi xuống cái ghế gỗ thấp, chỉ cao hơn mặt đất được mười phân. Ông tùy ý nhặt một thanh tre chưa vót, hỏi Mai Lệ Tư:
“Con biết cái này ngày xưa dùng để làm gì không mà chê?”
Mai Lệ Tư cạn lời, đáp: “Con mà biết được mới tài.”
Thấy tình thế không ổn, Lý Đổng Phi vì giữ gìn truyền thống kính trên nhường dưới, đành chen ngang vào nói: “Nối những thanh tre ấy lại, dùng dao để khắc lên, thế là làm được sổ sách bản ngày xưa đúng không? Cũng vì tre, trúc là xanh, thế nên mới có từ ‘thanh danh’.”
Minh Tùng phu tử thấy Lý Đổng Phi vót xong, ném thanh tre cho, cười khen:
“Được phết, xem ra con có chí học tập, sau này tất làm lên nghiệp lớn. Lệ Tư, con xem Đổng Phi với nhìn lại mình đi.”
Mai Lệ Tư thè lưỡi, đáp: “Không học, con còn lâu mới thèm học. Con chỉ muốn chơi đàn thôi!”
“Chơi đàn?” - Câu này không phải Minh Tùng phu tử hỏi, mà là Lý Đổng Phi đưa ra.
Mai Lệ Tư: “Đúng đúng, em thích chơi đàn, nhất là đàn nguyệt đó, mỗi lần em chơi, em cảm thấy rất thoải mái luôn. Không còn cha càu nhàu, không còn những anh chị phiền phức, không còn lo nghĩ hôm nay chơi gì… Tóm lại là rất thoải mái luôn!”
“Không sợ bị người ta nói là ‘xướng ca vô loài’ sao?” - Minh Tùng phu tử trêu chọc.
Mai Lệ Tư đứng phắt dậy, như bà Triệu thị cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, nàng chắp hai tay bên hông, mắt nó tươi sáng lung linh, khí phách hào hùng, nói:
“Sợ gì chứ? Chẳng phải có cha hay sao? Con không thể tính là ‘xướng ca vô loài’ được, mà phải là giỏi ‘Cầm, kỳ, thi, họa’ nha!”
Theo một câu mắng yêu “Con đấy…” Minh Tùng phu tử cốc vào trán nàng, cười:
“Có cha sống thì không sao, nhưng lỡ cha chết rồi thì ai chống lưng cho con?”
Mai Lệ Tư xoa xoa trán, cười hì hì thần bí, liếc mắt sang Lý Đổng Phi: “Chẳng phải còn chồng con sao? Lúc lớn lên con đi lấy chồng, không thèm ở nhà bị cha đánh nữa.”
Minh Tùng phu tử như bị sét đánh chôn chân tại chỗ, nhìn Mai Lệ Tư rồi nhìn Lý Đổng Phi, có vạn lời định nói trong bụng nhưng không thốt ra được lời nào.
Lý Đổng Phi ngẩng đầu lên, thắc mắc tại sao cả Minh Tùng phu tử và Mai Lệ Tư nhìn mình. Hắn sờ sờ mặt mình, ừm, không có gì dính lên cả.
“... Hai người, nhìn con làm gì?”
Minh Tùng phu tử thất thố ho khụ khụ, xua tay: “Không có gì, không có gì, chỉ là thấy con nghiêm túc làm việc như thế, không có được tuổi thơ như bao bạn cùng trang lứa khác, tiếc cho con thôi.”
Lý Đổng Phi kỳ quái nhíu mày, mơ hồ cảm thấy có gì đó không đúng, chỉ cười nhẹ, đáp:
“Không có gì phải tiếc cả, con muốn cho u con nửa đời sau được hạnh phúc thôi. Chỉ cần u được hạnh phúc, bất cứ giá nào con cũng trả.”
Thiếu niên lang ngồi dưới bụi tre già, nói ra ước nguyện và lời thề của mình.
Lá tre già đung đưa, như thể nó sẽ mãi ở đây, sẽ mãi dõi theo thiếu niên lang cho đến khi hắn hoàn thành được ước nguyện và lời thề của mình.
— “Là ai đã thề với tre xanh? Mà bao năm qua chẳng đạt thành?”
— “Thiếu niên trưởng thành qua giông bão, cuối cùng vẫn biến thành bão giông.”
“Cha, cha đang nói gì vậy?” - Mai Lệ Tư lên tiếng hỏi khi nghe thấy cha mình lẩm bẩm, có hiềm nghi rất lớn là nói xấu nàng.
Minh Tùng phu tử vuốt râu, nhìn thiếu niên đang cặm cụi làm việc, bâng quơ đáp lại:
“Không có gì, cha chỉ cảm thán một chút thôi.”
Mai Lệ Tư nhíu mày, không xin cha mình nói xạo, kéo lấy râu ông mà giật:
“Nói thật xem nào, không con về mách nội là cha nói xấu nội!”
“Ôi, ôi, ôi, đau, đau, cha biết sai rồi, cha biết sai rồi, con tha cho cha á —”
Nhìn đôi cha con thoải mái chơi đùa với nhau, ánh mắt Lý Đổng Phi hiện lên vẻ ước ao, nhưng hắn nhanh chóng nhịn xuống.
“Ta chỉ là một kẻ bất hạnh, mong ước nhiều thế làm gì…”
“U nói, tham lam sẽ ăn quả đắng…”
Gió heo may mát mẻ thổi qua, ghi khắc vĩnh viễn phút giây này.
Tiếng nô đùa quanh quẩn bên tai, không biết bao giờ mới có thể nghe lại.
Lý Đổng Phi bất đắc dĩ cười cười.
————
Bao năm qua đi, thiếu niên khắc khổ đã lớn dần. Lý Đổng Phi đã mười ba tuổi, chỉ cần sang năm, là đủ tuổi được đi thi Hương, là hắn đã có thể lĩnh một khoản tiền nho nhỏ về đỡ đần u mình. Cũng không uổng công u nuôi hắn ăn học bao lâu như vậy.
Nhưng nhân sinh của hắn luôn không thể nào dễ dàng như thế.
Lý Đổng Phi gặp được Lương Túc Huy, chính là thế tử của phủ Trấn Bắc Vương oai phong hiển hách.
Hắn không có cảm tình gì với Lương Túc Huy, chỉ cảm thấy dưới lớp da ôn hòa hữu lễ kia, cũng là một linh hồn đã vặn vẹo như hắn.
Đồng loại gặp đồng loại, chỉ hận không thể chém chết nhau.
Nếu nói Lý Đổng Phi kháng cự lại sự vặn vẹo điên cuồng đó, thì Lương Túc Huy chính là chìm đắm và tận hưởng sự điên cuồng.
Hai con ngươi của bọn hắn đều tĩnh mịch, nhưng một kẻ từ mang ý cười, còn một kẻ chỉ mang hơi thở lạnh lẽo.
Lạnh lẽo, y như mùa hè năm đó vậy.
“Đổng Phi, cậu thích cô Lệ Tư như tôi — sao?” - Lương Túc Huy vẫn mang vẻ mặt ôn hòa giả dối, cười hỏi Lý Đổng Phi đang bị dồn ép vào ngõ hẹp.
“Khụ, khụ…” - Lý Đổng Phi không thốt ra lời nào, chỉ ho khan. Ánh mắt hắn nhìn về phía Lương Túc Huy và những kẻ theo sau hắn, tĩnh mịch, chết lặng, cùng với cả sát ý nồng đậm.
Lương Túc Huy không nhìn ánh mắt như sói dữ của hắn, chỉ nheo mắt nặn ra một nụ cười trêu tức và bệnh hoạn.
“Lên đi, giữ chặt nó vào.” - Lương Túc Huy vẫy vẫy đám đàn em phía sau của mình, ra lệnh cho bọn chúng.
Lý Đổng Phi bị ghìm chặt trên mặt đất lạnh. Đúc Châu không có tuyết rơi, nhưng tiết trời vẫn rất lạnh lẽo.
Gió lùa qua manh áo của Lý Đổng Phi, thổi cho cơ thể đã nhiều ám tật lại càng thêm tím tái và xanh xao. Lý Đổng Phi là con nhà nghèo, dù có lao động nhiều, cũng không thể khỏe bằng lũ con nhà địa chủ được ăn ngon mặc ấm và học võ bài bản.
Trên trời, mây đen giăng kín phía, là người bình thường đều biết chẳng mấy chốc nữa là trời sẽ mưa to.
Lý Đổng Phi không thể hoạt động nổi một cái tay hay một cái chân, miệng hắn bị một nắm rẻ lau nhét sâu vào, không thể phát ra những tiếng kêu cứu.
Trời sầm lại, ai nấy đều về nhà, còn có ai ra đường mà trông thấy cảnh này?
Lại có ai trông thấy mà nguyện xả thân giúp đỡ?
Lý Đổng Phi không biết, nhưng đại khái là sẽ không.
Mặt đất lạnh lẽo, tiết trời âm u, và một đám người mang nặng ác ý thuần túy mà vặn vẹo.
Thiên thời — Địa lợi — Nhân hòa, đều đủ cả. Con ngươi của Lý Đổng Phi hiện lên vẻ mỉa mai, đến ông trời cũng bỏ rơi hắn và trêu tức.
Lương Túc Huy không có ý đồ để đàn em của mình đánh đập hay tra tấn Lý Đổng phi, vì điều này không thú vị, tên dạng chó hình người này đã làm rất nhiều lần rồi.
Gã chán, gã muốn kết thúc.
Lương Túc Huy vẫn nở nụ cười như mọi khi, nhưng nụ cười này không còn ‘ôn hòa hữu lễ’ chỉ còn lại quyết tuyệt và điên cuồng.
“Đổng Phi, Lý Đổng Phi, bản thế tử đã bảo mày bao lần, tránh xa cô Lệ Tư, rời bỏ việc học hành. Đáng tiếc, mày lại không để vào tai. Tao chơi chán rồi, tao chán cái trò bắt nạt và mèo vờn chuột rồi. Kinh thành là nơi mày có thể đến sao? Không, không, mày không xứng với nơi đó, mày cũng không xứng với cô Lệ Tư.”
Lương Túc Huy rút đao ra khỏi vỏ, trào phúng.
“Mày nghĩ mày là cái gì? Mày nghĩ mày có thể leo ra khỏi nơi ô uế của mày sao? Mày chỉ là một con kiến hôi, một con sâu bọ ở trong đó, vĩnh viễn không thể chạy ra khỏi bóng tối, vĩnh viễn không thể chạy ra sự khổ đau.”
“Mày có thấy nhục khi mẹ mày làm cái nghề dơ bẩn đó không? Cha mày đâu? Lão ta không thấy hổ thẹn với mẹ con mình sao?”
“A, quên mất, cha ngươi chết rồi, bị đám phản quân kia giết rồi, chặt đầu ghim trên ngọn giáo với hàng vạn cái đầu khác.”
“Kết cục của ngươi, cũng sẽ như hắn thôi.”
Lương Túc Huy không ngừng công kích vào điểm yếu của Lý Đổng Phi, lưỡi dao lạnh lẽo lướt trên má, như cái hôn nhẹ nhàng mà Mai Lệ Tư tặng cho hắn, nhưng lưỡi đao đột nhiên đâm vào da, rạch ra một đường máu đỏ tươi.
Cơn đau đớn trên mặt khiến mồ hôi lạnh của Lý Đổng Phi chảy ướt nhẹp cả người, miệng bị nhét căng rẻ lau, càng khiến hắn thống khổ và thống hận hơn.
Hận mình quá yếu, hận mình vô năng, hận mình nhu nhược.
Hắn muốn — Hắn muốn đứng lên!
Hắn không muốn uốn gối quỳ nữa!
Trước bọn cai lệ và quý tộc!
Hắn — Không muốn quỳ nữa! !
Huyết lệ trào ra khỏi mắt Lý Đổng Phi, nhân lúc bàn tay đàn em của Lương Túc Huy run lên mà vùng vẫy thoát ra, dẫu sao thì bọn hắn cũng mới tuổi thiếu niên, chưa đủ can đảm để thấy lưỡi đao và máu me.
Tránh thoát đàn em của Lương Túc Huy trong nháy mắt, Lý Đổng Phi liền nhanh chóng quăng một đống cú đấm túi bụi vào ngực của Lương Túc Huy.
Tên kia căn bản không kịp phản ứng, ăn thiệt lớn, sắc mặt nhanh chóng tái đi, không kịp làm ra phản ứng gì.
Sấm sét ầm ầm như du long trong những tầng mây, Lý Đổng Phi thấy bọn đàn em của Lương Túc Huy kịp phản ứng, liền nhanh nhảu chạy đi, trước lúc đi còn không quên móc rẻ lau ra ném vào đám người đó.
Lương Túc Huy đứng dậy ho khù khụ khi được đám đàn em đỡ, trời sắp mưa to, gã không có ý định đuổi theo, chỉ dùng sức hét lên một câu:
“Lý Đổng Phi — ! ! Về đến nhà — ngươi sẽ nhận được bất ngờ nha —”
Âm thanh của gã hòa cùng tiếng sấm vang, đánh vào lòng Lý Đổng Phi một mảnh buốt giá.
Gió thổi thổi bên miệng vết thương, nhưng Lý Đổng Phi không để ý, chỉ cấp tốc chạy về nhà.
Quái lạ, đường về nhà bình thường rất gần, nhưng tại sao hôm nay lại xa đến thế?
Lý Đổng Phi cứ cắm mặt chạy về phía trước, mây nặng hạt cuối cùng cũng chịu nhả cơn mưa.
Mưa rơi rồi, rơi đè nặng vào lòng thiếu niên trẻ.
Khi hắn xông đến trước cửa nhà, gào to lên gọi u hắn:
“U ơi? U ơi! U ơi!”
Một linh cảm chẳng lành len lỏi trong lòng hắn, Lý Đổng Phi mở mạnh cửa nhà ra, đập vào mắt, chính là cơ thể của u yên lặng nằm trên sàn nhà.
Trắng bệch, cứng đờ.
— U hắn, chết rồi.
Không còn người đun nước nóng, không còn người lo lắng hỏi han, không còn ai lau người, cũng không còn bát cháo loãng đậm tình yêu thương.
Hết thảy, đều không còn nữa rồi.
Lý Đổng Phi đứng sững người trước cửa nhà, mặc cho mưa rơi xối xả.
Huyết lệ chảy xuôi theo má.
— Lệ lần trước rơi xuống, vì thương.
— Lệ lần này rơi xuống, vì hận.
Mưa gió lại nuốt mất thân gầy của u nó rồi..