Chương 2: Cổ Niên Tông
Thời gian thấm thoát trôi đi, cuối cùng ta đã xuyên đến Thái Sơ Giới gần một năm, trong một năm nay, thời gian đầu sống mơ màng nên cảm giác thời gian trôi qua vô cùng chậm, mỗi ngày công việc đều giống nhau lặp đi lặp lại khiến ta càng thêm nản lòng thoái chí hơn.
Ta ấy mà, tất nhiên cũng từng mơ mộng có bàn tay vàng, nhưng lâu dần ta cũng nhận định sự bình phàm của mình, có lẽ nữ thần thời gian trong lúc tạo ra nhân vật chính khác xuyên không, vô tình khiến một kẻ như ta rơi vào thời không khác mà thôi.
Ta nghĩ, đến thì cũng đến rồi, chi bằng thử sống một cuộc sống khác thử xem sao. Một thế giới mà hoàn toàn không có deadline. Cứ mỗi buổi sáng ta gánh nước từ khe núi dưới chân tông môn, mấy buổi đầu thì cực khổ lắm nước lạnh thấu xương, ta vốn chỉ là một kẻ sống trong cuộc sống văn phòng, đâu ra thời gian rèn luyện, nên quãng thời gian đó thực sự mệt, chỉ cần ngã đầu xuống gối là có thể ngủ được luôn.
Buổi ban trưa quét dọn sân trước điện cũ, lá rụng từng lớp, quét xong lại rơi. Cứ mỗi thu đến ta lại ngập trong đống lá, nhiều khi chỉ muốn ngước lên cây cổ thụ mà gào “sao nhiều lá rụng đến thế!”.
Chiều theo sư đệ luyện quyền, hắn thấy ta tập xiêu xiêu vẹo vẹo liền cười ta hơn một tháng, cười đến mức ta tự ti, âm thầm cố gắng đến lúc gần ngủ cũng phải hồi ức quyền pháp như thế nào!
Tối thì hoặc ở lại Thư Các cùng nhị sư tỷ, nghe tỷ ấy bổ túc về thế giới này nguy hiểm như thế nào, với một kẻ tam quan được đắp nặn sẵn như ta, rất khó để dung nhập vào thế giới này.
Cứ như vậy, một năm trôi qua, dẫu không có deadline nhưng lại mệt mỏi hơn cả nhận deadline nữa!
Sau thời gian khám phá, cuối cùng cũng cảm thấy cuộc sống bắt đầu cảm thấy dễ thở hơn, tuy nhiên thỉnh thoảng ta vẫn cảm thấy khá cô đơn khi nhìn thấy những quang cảnh điêu tàn của tông môn. Ta từng dạo bước trên đại điện, tàn tích còn sót lại khiến ta chắc chắn rằng tông môn đã từng rất cường thịnh
Có lẽ những trận pháp được khắc trong đại điện kia từng khuấy động thiên địa giờ chỉ còn vài đường khắc mờ trên nền đá, mưa nắng bào mòn đến mức chẳng còn phân biệt được là trận văn hay vết nứt.
Ta từng tìm kiếm mọi ngóc ngách bí ẩn của nơi này, chính vì vậy mà ta phát hiện, sâu trong rừng rậm, trên vách núi phía Đông vẫn còn treo tấm bia đá khắc ba chữ “Cổ Niên Tông” nhưng một góc đã sụp, rêu phong bám lên tấm biển xanh rờn, nó đã bị phong hóa nghiêm trọng. Nét chữ mòn đến mức phải nhìn rất lâu mới nhận ra. Một tông môn từng trông coi khế ước, mà lại suy tàn đến mức này.
Mỗi người ở trong tông môn cũng khiến ta cảm thấy lạ lẫm vô cùng. Tất cả tông môn chúng ta cũng chỉ có 5 người, bao gồm sư phụ, đại sư huynh Tịch Ngôn, nhị sư tỷ Tri Thư, ta và tiểu sư đệ Tinh Vũ, trong đó người kỳ lạ nhất chắc là đại sư huynh.
Tông môn chủ yếu chủ tu về khế ước, hắn lại đi tu Vô Tình Đạo. Bộ dạng cũng không giống người thường cho lắm, tròng mắt của hắn màu bạc, lông mi trắng, tóc cũng trắng, một thân bạch y sạch đến mức không nhiễm nổi một hạt bụi trần. Dung mạo phong thần tuấn lãng như bước ra từ tranh cổ, cảnh giới đã đột phá đến Hóa tạng, khí tức trầm ổn như nước, không một ai có thể nắm bắt hoặc biết hắn nghĩ gì.
Tất cả mọi người trong tông môn đều không biết hắn đến từ đâu ngoại trừ sư phụ.
Người cũng như tên của hắn, phần lớn thời gian hắn không nói chuyện cùng tất cả mọi người, cũng không hề dạy mọi người tu hành, nhưng mỗi lần mọi người bị thương, trước cửa phòng ta và mọi người luôn xuất hiện một bình đan dược. Không lời nhắn, không lưu dấu vết, giống như một bóng đen âm thầm lặng lẽ.
Nhị sư tỷ là người con gái đẹp và đặc biệt nhất mà ta từng gặp. Trong tông môn này chỉ có ta và nàng là phàm nhân. Không sai, sư tỷ cũng là phàm nhân, nàng có thần tạng, có tinh mạch nhưng tinh mạch của nàng không biết nguyên nhân vì sao không mở được.
Nàng đẹp không chói mắt, không rực rỡ, giống như hoa đỗ quyên lớn lên trong bão táp mưa sa, khiến người ta không thể quên. Giọng nói nàng luôn rất khẽ, nhưng mỗi câu nói ra đều có trọng lượng. Nàng đọc sách nhiều nhất trong tông môn, Thư Các có một nửa là do nàng sắp xếp và quản lý.
Ta thích nhất lúc nàng nói về sách cổ về khế ước, về thiên đạo, về những tông môn đã mất, những lúc như vậy, nàng giống như phát sáng, nhưng có lẽ vận mệnh của nàng thực sự là không tốt.
Nàng là phàm nhân, không linh căn, không thể tu luyện, nhưng lại dùng tri thức để đứng lặng giữa một tông môn toàn tu sĩ, giống như một ngọn hải đăng giữa biển cả rộng lớn đầy bão táp, luôn rọi sáng để những người trên biển không bị lạc đường.
Tiểu sư đệ Tinh Vũ là người duy nhất trong tông môn luôn hoạt bát. Ta không hiểu từ đâu ra mà hắn nhiều năng lượng tích cực đến thế. Hắn có thể cười khi bị sư phụ trách phạt, cười khi thấy những áng mây trôi trên đỉnh núi, thậm chí ngay cả không có chuyện gì lớn lao trong ngày, hắn cũng ríu rít kéo ta nói rằng hắn đã vui vẻ như thế nào.
Nhưng ta thấy thứ mà bản thân mình không thể bao giờ có được ở hắn, đó chính là sự vô tư hồn nhiên khiến người ta không nỡ trách. Nếu không có hắn, Cổ Niên Tông mấy người đệ tử còn lại có lẽ ngày này qua ngày khác chẳng nói với nhau câu nào cũng nên.
Còn sư phụ, hay còn là Vạn Khế đạo nhân, tất cả mọi người trong tông môn đều không biểt tên thực sự của ông ấy là gì, ông ấy luôn bảo bọn ta rằng, danh xưng cũng chỉ là thứ mà người đời gọi bản thân mình, thật thật giả giả cũng đâu quan trọng gì.
Ông ấy thường xuyên biến mất, nhanh thì mấy ngày xuất hiện, chậm thì vài tháng. Không hiểu sao ta cảm thấy ông ấy chứa chấp rất nhiều tâm sự, cũng mang rất nhiều ưu sầu. Tính tình không đến mức cổ quái nhưng lại vô cùng lạnh nhạt, sự lạnh nhạt ấy đến từ nhìn thấu hồng trần chăng?
Ta vẫn còn nhớ, ngày hôm ấy sau khi ta hoàn thành công việc quét lá, nhị sư tỷ gọi ta đến Thư Các. Ta tuy rằng thường hay đọc sách ở đây, nhưng những cuốn sách ta đọc ấy, chỉ bao hàm trong việc địa lý dân sinh vân vân, không có chút dính dáng nào đến việc tu tiên cả, vì không có. Không nhầm đâu, trong thư các không có công pháp là bởi vì phải bước vào luyện thể thì mới có linh lực mở ra những tầng có công pháp tu tiên.
Thường những đệ tử mới, đều sẽ được sư phụ của mình lựa chọn công pháp phù hợp với Thần Tạng và Tinh Mạch. Nhưng sư tỷ nói rằng ta nhập môn muộn, sư phụ cũng không dặn dò phải truyền công pháp nào phù hợp nên mới kéo dài tận một năm mới nói về chuyện tu luyện với ta.
Tỷ ấy đưa ta một cuốn cổ thư, ấn tượng ban đầu có lẽ nó còn cũ hơn bộ sách giáo khoa thời cấp ba của ta nữa, trang giấy nó rách tung tóe, ưu điểm là cho dù cũ nhưng mà nội dung trong đó vẫn nguyên vẹn. Xuyên đến đây hơn một năm, ta cũng đã có thể xem hiểu nội dung văn tự ở đây nên ta vội vàng cúi đầu lật xem.
Thấy ta chuyên chú, sư tỷ nhẹ nhàng giảng giải: “Đây là ghi chép về Thần Tạng, thứ định ra giới hạn tu hành của mỗi người ngay từ khi sinh ra. Thần Tạng được chia làm năm loại: Hạ, Trung, Thượng, Cực, và Dị Chủng.
“Đệ có thể hiểu rằng, thần tạng cũng chính là thiên phú từ lúc sinh ra đệ đã có, đệ có thể đi được bao lâu, đi được bao xa phụ thuộc vào thần tạng của đệ ở mức nào, tuy nhiên cũng có những trường hợp thần tạng có thể được củng cố và tăng lên, nhưng cái giá không phải chúng ta có thể trả được!”
“Ngoài ra, cảnh giới được phân định thành mười cấp bậc như sau: Luyện thể - Trúc mạch – Ngưng tinh – Hóa tạng – Nguyên thần – Đại thừa. Hướng lên trên cao hơn nữa có Thánh – Đế.”
"Đó là giới hạn mà ta có thể biết đến, có lẽ có những cảnh giới cao hơn, nhưng hiện tại ta chưa thể nào mà giải thích được, nhưng đến một ngày ta có thể khuy giải hết bí ẩn của thiên địa này!”
Tỷ ấy nói, mở đầu khi bước vào con đường tu tiên đó chính là luyện thể, vậy bản chất của luyện thể là gì? Theo đúc kết của vô số tiền bối đi trước, luyện thể chính là ranh giới phá vỡ giới hạn của phàm nhân và tu sĩ. Nói đơn giản chính là người thường lấy thân xác làm căn cơ, lấy linh khí làm vật dẫn. Dùng tiềm năng của cơ thể như cơ bắp, xương máu để tiếp nhận và thu nạp linh khí rèn luyện nâng cao tư chất.
Ví dụ như trong một năm vừa rồi, tuy rằng ta làm những công việc lặt vặt như gánh nước chặt củi, luyện quyền, đều là những cách rèn luyện thể chất. Ngoài cách đó, còn có những cách khác nhanh hơn ví dụ như dùng đan dược để trực tiếp tu luyện dẫn khí nhập thể.
Cũng có những con đường như dùng thiên tài dị bảo trực tiếp dung nhập, nhưng cách này quá rủi ro nếu không có các bậc trưởng bối trợ giúp.
Tất nhiên cũng có những con đường tà ma ngoại đạo, đi con đường này tuy nhanh nhưng hậu quả sau này phải gánh cũng không nhỏ.
Luyện thể chia làm chín tầng, ba tầng hạ ba tầng trung ba tầng thượng.
Ba tầng hạ được gọi chung là luyện khí huyết. Ở cảnh giới này, tu sĩ thường lấy máu thịt làm nền, tôi luyện gân cốt, thúc đẩy khí huyết vận hành nhưng bản chất vẫn là phàm nhân, chỉ là sức lực lớn hơn phàm nhân một chút
Ba tầng trung bước vào giai đoạn luyện căn cốt. Đây là lúc không chỉ da thịt được rèn giũa, mà xương tủy, nội tạng, huyết mạch đều phải trải qua quá trình phá rồi lập lại.
Ba tầng thượng là luyện thể pháp. Đây cũng là giai đoạn hung hiểm nhất, lúc này máu của tu sĩ đã có thể hóa pháp lực, xương có thể sinh đạo văn, mỗi một quyền, một bước, đều mang theo pháp tắc vận hành.
Những cảnh giới cao hơn, đến khi ta tu luyện tới tỷ ấy sẽ giải thích thêm. Ta vừa nghe vừa chiêm nghiệm, thực ra nó có phần giống với những tình tiết mà ta thường đọc lúc giải trí, nhưng qua lời giải thích của tỷ ấy, sự huyền diệu và thâm sâu của nó khiến ta cảm thấy như được ném vào một hải dương tri thức hoàn toàn mới.
Nói qua về cảnh giới, tỷ ấy lại nhắc đến một khía cạnh khác đó là Mạch tinh, về bản chất có thể hiểu rằng Mạch Tinh là những thông lộ linh lực ẩn trong huyết nhục con người, là con đường duy nhất để linh khí có thể lưu chuyển trong thân thể.
Không có nó, dù có linh khí trước mặt, cũng chỉ như gió lướt qua da. Theo ghi chép của sách cổ, mạch tinh có tối đa 48 mạch trong cơ thể, nhưng không phải ai cũng có thể đả thông cả 48 mạch tinh ấy.
Hồi tưởng lại những lời giải thích của sư tỷ, ta thấy mạch tinh nó giống như kinh mạch trong cơ thể vậy, nhưng ta cũng chỉ là đoán mò, nếu có thể tận mắt nhìn thấy đại sư huynh triển khai mạch tinh thì tốt rồi.
Lần đầu tiên sau khi đến Thái Sơ Giới, trong lòng sinh ra một ý niệm vô cùng rõ ràng: ta muốn biết lực lượng của bản thân sẽ đến đâu?.