Chương 43: Thâm Hải Trấn Viêm Đại Trận
Thấy ta đi thẳng vào vấn đề như vậy, Vưu Huy thoáng khựng lại một nhịp, dường như có chút ngoài dự liệu. Theo lẽ thường, chẳng phải nên còn đôi ba câu đưa đẩy, thăm dò qua lại hay sao? Hắn bật cười khẽ, trong lòng thầm than: người trẻ tuổi quả nhiên làm việc gì cũng đầy nhiệt huyết, không thích vòng vo.
Hắn khẽ vẫy tay, ngoài cửa, dược đồng đã chờ sẵn từ lâu liền bước vào, hai tay nâng mấy khối ngọc giản đặt ngay ngắn lên mặt bàn. Dược đồng cung kính nói rằng: “nhị trưởng lão, đây là toàn bộ ngọc giản lưu trữ các ghi chép liên quan đến địa mạch linh hỏa.”
Vưu Huy khẽ gật đầu, khoát tay cho dược đồng lui ra ngoài. Hắn đưa tay chỉ vào hàng dài ngọc giản xếp chỉnh tề trên bàn, chậm rãi nói: “đây là toàn bộ những tư liệu mà Vưu gia chúng ta chắt chiu sưu tập được qua năm tháng, tất cả đều liên quan đến địa mạch linh hỏa. Nếu ngươi cần tiến nhập địa mạch, cứ báo với đan đường, bọn ta sẽ sắp xếp người đi theo, đảm bảo an toàn ở mức cần thiết.”
Ta gật đầu nhận lời, sau đó liền chìm vào việc đọc ngọc giản, gần như quên ăn quên ngủ. Từ ngày này sang ngày khác, ta vùi đầu trong từng dòng ghi chép cổ xưa, đối chiếu, so sánh, tổng kết. Chỉ đến khi khép lại khối ngọc giản cuối cùng, ta mới giật mình nhận ra đã hơn một tuần trôi qua.
Qua những tư liệu ấy, ta bước đầu hiểu được rằng địa mạch linh hỏa của Vưu gia vốn cũng có tên gọi riêng chính là Thâm Hải Huyền Viêm.
Muốn truy xét nguồn gốc của Thâm Hải Huyền Viêm, phải ngược dòng lịch sử về tận thời kỳ thượng cổ của Vạn Hà Kỷ. Theo ghi chép, khi ấy Vưu gia còn là một đại tộc hiển hách, trong tộc từng xuất hiện không ít đại năng. Trong số đó có một vị thánh nhân tinh thông đan đạo, cả đời chỉ mải mê tìm kiếm linh hỏa và cổ đan phương, nhằm củng cố căn cơ lâu dài cho gia tộc.
Khi chu du đến Vọng Nguyệt Thế Thành, vị thánh nhân này phát hiện dưới phế thành vạn năm kia ẩn giấu một vùng hải mạch khổng lồ, thông với thâm huyền hải dương. Cũng chính tại nơi ấy, lão phát hiện ra Thâm Hải Huyền Viêm. Suốt hơn trăm năm trời, lão bố trí đại trận, lập khế ước, từng bước thu phục linh hỏa này, rồi trấn áp nó sâu trong địa mạch, để lại làm căn cơ cho hậu nhân.
Nguyên bản, Vưu gia cũng không cư trú tại Vọng Nguyệt Thế Thành. Chỉ vì chủ mạch ở nơi khác đắc tội với cường địch, dẫn đến đại họa diệt tộc, cuối cùng chỉ còn lại một nhánh tàn dư lưu lạc đến đây. Từ một đại tộc lẫy lừng sa sút thành gia tộc nhỏ bé trong giới tu tiên, nhưng nhờ có Thâm Hải Huyền Viêm làm chỗ dựa, Vưu gia mới có thể đứng vững ở vùng đất này. Dẫu trải qua vô số thăng trầm, suy thịnh đổi thay, cuối cùng cũng coi như giữ được huyết mạch không đoạn.
Đọc đến đây, ta không khỏi nhíu mày tính toán. Thời kỳ thượng cổ của Vạn Hà Kỷ nếu đối chiếu niên đại, e rằng phải ngược về tận mười một nghìn năm trước. Mười một nghìn năm trước, được gọi là Thượng Cổ Kỳ của Vạn Hà Kỷ. Trải qua ngần ấy năm tháng, Thâm Hải Huyền Viêm vẫn luôn bị trấn áp ư?
Mang theo nghi vấn ấy, ta tiếp tục lật xem những ghi chép liên quan đến trận pháp trấn áp và khế ước trấn áp. Phần trận pháp được mô tả khá đầy đủ, từng tầng từng lớp, mạch lạc rõ ràng, đủ để hình dung ra toàn bộ bố cục. Thế nhưng đến phần khế ước trấn áp, ghi chép lại cực kỳ sơ sài, chỉ vỏn vẹn vài dòng ngắn ngủi, không hề nói rõ bản chất hay điều khoản cốt lõi. Chính chỗ mập mờ này, khiến trong lòng ta dần dâng lên một cảm giác bất an khó gọi thành tên.
Theo tri thức ta được bồi dưỡng khi còn tu học tại Cổ Niên Tông, cùng với những hiểu biết tự mình tích lũy sau này ở Bác Nguyên Thư Viện, ta biết rằng khế ước và trận pháp trong tu chân giới đều được phân chia thành chín bậc, từ thấp đến cao, phân minh nghiêm ngặt, tuyệt không thể vượt cấp tùy tiện. Chỉ ở Vọng Nguyệt Khế Thành khế ước mới có thêm Thiên Khế và Tiểu Khế.
Trận pháp từ thấp đến cao lần lượt là: Phù trận, Tiểu trận, Địa trận, Đại trận, Linh trận, Đạo trận, Tiên trận, Thánh trận, và cuối cùng là Đế trận. Mỗi một bậc lại chia thành hạ, trung, thượng tam phẩm, tầng tầng chồng chất, sai lệch một bậc thôi cũng đã là khác biệt như mây với bùn.
Khế ước cũng tương tự như vậy, đồng dạng chia làm chín cấp. Từ Phù khế khởi đầu, tiếp theo là Huyết khế, Linh khế, Mạch khế, rồi đến Hồn khế, Đạo khế, Tiên khế, Thánh khế, và tối cao là Đế khế. Chỉ có điều, tại Cổ Niên Tông, những ghi chép liên quan đến khế ước vốn không đầy đủ, nhiều chỗ mơ hồ, chỉ nói đại khái mà thiếu đi căn nguyên và chi tiết. Phải đến khi vào Bác Nguyên Thư Viện, lật xem các cổ tịch lưu truyền từ nhiều kỷ nguyên, ta mới thật sự hiểu rõ hệ thống cấp bậc hoàn chỉnh của khế ước.
Nhớ lại khi còn ở Cổ Niên Tông, nhận thức của ta về khế ước cũng chỉ dừng ở Linh khế và Mạch khế mà thôi. Trận quyết chiến cuối cùng giữa sư phụ và Trang gia năm ấy, theo ta nhớ không lầm, chính là một loại Linh khế dùng để ràng buộc và cưỡng ép linh lực, lấy khế làm xiềng, lấy đạo làm khóa, một khi kích phát thì không chết không thôi.
Quay lại với trận pháp của Vưu gia, địa mạch linh hỏa nơi đây được trấn áp bằng một đại trận mang tên Thâm Hải Trấn Viêm Đại Trận. Toàn bộ trận pháp được cấu thành bởi ba tầng, kết cấu chặt chẽ, ý cảnh thâm sâu, hiển nhiên không phải thủ bút của hạng tầm thường.
Ngoại tầng được gọi là Hải Áp Trận, bản chất của tầng này là dùng thủy đạo cổ trận văn khắc thành, lấy uy lực của Hải Uyên làm căn cơ, mượn thế thâm uyên trấn áp vạn vật. Khi đại trận vận chuyển, áp lực hải uyên tựa như trời sập xuống, từng tầng từng tầng đè ép, khiến linh hỏa khó lòng bộc phát, chỉ có thể bị ép chặt trong phạm vi quy định.
Trung tầng có tên là Lưu Phản Hồi Trận, là tầng then chốt dùng để điều hòa. Tầng này chuyên trách việc dẫn dắt và tuần hoàn dư lực của Hải Áp Trận. Mỗi khi Thâm Hải Huyền Viêm xuất hiện dao động hoặc bộc phát, linh áp từ Hải Uyên sẽ theo trận văn tràn vào, áp chế linh hỏa đến trạng thái ổn định, sau đó lại theo dòng trận lực hoàn lưu, trả toàn bộ áp lực về Hải Uyên, không để dư lực tích tụ trong địa mạch.
Còn tầng trong cùng, cũng chính là trận tâm, mang tên Huyền Viêm Trận Tâm. Điều khiến ta chú ý nhất là, trận tâm này không phải phong ấn, mà là dưỡng hỏa. Ở nơi đây, linh hỏa không bị cưỡng ép, cũng không bị trấn áp thô bạo, mà bị vây giữ trong một môi trường thâm hải được trận pháp mô phỏng ra. Linh hỏa sinh tồn, tuần hoàn, tự diễn hóa trong thâm hải nhân tạo ấy, vừa không thể thoát ly, lại vừa không đến mức suy kiệt.
Sau khi đọc kỹ toàn bộ những tư liệu cần thiết, ta dần dần sinh ra một cảm giác rõ ràng, chỉ dựa vào ghi chép trên ngọc giản thì vẫn chưa đủ, muốn biết rốt cuộc địa mạch linh hỏa đang gặp vấn đề gì, tất phải tự mình đi khảo sát thực địa. Nghĩ đến đây, ta biết cũng đã đến lúc nên đi gặp Tịch Ngôn một chuyến.
Mấy ngày lưu lại nơi này, ta cũng đã quen dần với lão đầu Vưu Huy. Thấy ta ngày ngày vùi đầu trong ngọc giản, gần như quên cả ăn ngủ, hắn chỉ tặc lưỡi mấy tiếng rồi khẽ thở dài, lắc đầu. Ánh mắt ấy, như thể nhìn thấy chính mình năm xưa trong dáng vẻ của ta. Bởi vậy, đối với ta, hắn cũng coi như chiếu cố hơn vài phần, ít nhiều không làm khó, cũng không thúc ép.
Thế nhưng, không phải ai cũng nghĩ như vậy.
Đối với một số người trong Vưu gia, sự xuất hiện của ta lại đồng nghĩa với việc động chạm đến lợi ích thiết thân của bọn họ. Từ khoảnh khắc ta bước chân vào Vưu gia, đã có không ít ánh mắt âm thầm dõi theo. Chỉ là những chuyện ấy, lúc này ta còn chưa hay biết.
Trong một viện nhỏ thanh u, bóng đêm buông xuống, vô số thân ảnh mờ ảo lặng lẽ tụ tập. Ở vị trí chủ tọa, một trung niên nam nhân ngồi yên lặng, gương mặt không chút biểu cảm, lắng nghe thuộc hạ đứng bên cạnh khẽ khom người bẩm báo: “Thưa trưởng lão, vị Hứa khách khanh kia sau khi đến Vưu gia liền một mạch chui vào đan đường. Đến nay đã hơn một tuần trôi qua, nhưng vẫn chưa thấy có động tĩnh gì.”
Trung niên nam nhân khẽ gật đầu, sau đó đứng dậy, chậm rãi bước đến bên một chậu linh thảo hạ phẩm mang tên Tụ Khí Diệp. Những tán lá xanh um mọc chen chúc, hắn ung dung cầm kéo tỉa bớt từng nhánh dư thừa. Vừa tu bổ, hắn vừa thản nhiên nói: “Ghế khách khanh của Vưu gia, xưa nay không phải ai cũng có thể ngồi. Mỗi khi có thêm một người ngồi vào, lợi ích của các vị ở đây liền bớt đi một phần. Các vị… đã hiểu lời ta nói chưa?”
Trong viện lập tức vang lên những tiếng xì xào khe khẽ, ánh mắt giao nhau, tâm tư khó lường. Một lát sau, vài giọng nói đồng thanh cất lên, ý tứ đã quá rõ ràng.
Trung niên nam nhân không nói thêm gì nữa. Hắn đặt chiếc kéo xuống, phủi nhẹ tay áo, rồi khẽ xua tay, như thể vô tình mà cũng như cố ý, coi như đã đuổi khéo tất cả những kẻ đang tụ tập nơi đây. Bóng người lặng lẽ tản đi, chỉ còn lại viện nhỏ chìm trong tĩnh lặng, nhưng sát cơ thì đã âm thầm nảy mầm..