Chương 59:
Cải cách phải theo kịp nhịp tiến của thế giới, cải cách không phải là bê nguyên xi nguyên kiện về mà phải sửa đổi cho phù hợp với tình hình trong nước.Hơn nữa, như đồng chí Lê Duẫn nói: Không được tin hoàn toàn vào Trung Quốc.
Bác cũng từng nói: Liên Xô là đồng minh mà không phải đồng bào.
Mà đồng minh thì khi gặp xung đột về lợi ích lại có thể trở mặt thành thù như cái cách của Mỹ và Liên Xô trở mặt nhau.
Cải cách Trung Quốc cũng có làm đấy hậu quả để lại là tạo một thời kỳ lịch sử đen tối mà người dân và Chính Phủ không dám nhắc đến, cho đến tận 70 năm sau khi đã bước vào thế kỷ 21 hơn 20 năm mà những tác giả tiểu thuyết, những bộ phim chiếu trên truyền hình vẫn nhắc đi nhắc lại cái khổ cùng cực, cái chết oan ức của những người đã từng sống trong thời kỳ đó.
Thời kỳ đó Mao Trạch Đông muốn trở thành một vĩ nhân như Lennin lãnh đạo Đảng cộng sản Trung Quốc, muốn trở thành kẻ độc tài nắm toàn bộ quyền hành như Stalin trong thế chiến thứ hai, Hồng Quân của Trung Quốc trong cải cách ruộng đất 1946 - 1953 đã giết hơn 2 triệu người bị đấu tố là địa chủ, tư bản. Trong nhiều nơi, bạo lực diễn ra cực đoan, thiếu công bằng pháp lý.
Gây chia rẽ sâu sắc trong nông thôn, hận thù giữa các tầng lớp.
Sau chia ruộng, đất đai nhanh chóng bị tập thể hóa (quy về công xã, hợp tác xã) khiến nông dân mất quyền sở hữu thực sự, làm giảm năng suất lâu dài.
Sau cải cách ruộng đất Mao Trạch Đông lại thực hiện chính sách "Đại Nhảy Vọt" phát động từ năm 1958 đến 1961 với mục tiêu đưa đất nước “tiến nhanh, tiến mạnh” lên chủ nghĩa cộng sản, nhanh chóng công nghiệp hóa đất nước, vượt Anh, đuổi kịp Mỹ trong một thời gian ngắn.
Chính sách này huy động dân làng xây lò luyện thép thủ công (“lò cao sau vườn”) bỏ học, bỏ sản xuất để làm thép.
Gộp hàng trăm hộ dân vào công xã, ăn tập thể, sống tập thể, làm việc tập thể.
Quan chức địa phương vì thi đua thành tích, báo cáo sản lượng, phóng đại số lượng, che giấu chất lượng.
Trung ương lại dựa vào con số sai để trưng thu lương thực, dân không còn gì ăn.
Hậu quả kinh tế sản lượng thép, nông sản sụp đổ; công nghiệp và nông nghiệp kiệt quệ.
Xảy ra nạn đói lớn 1959–1961, khiến 30–45 triệu người chết.
Số công bố của Trung Quốc có 15 triệu người chết, không họ ém nhẹm luôn số liệu.
Nhưng dưới sự điều tra của Judith Banister (nhà nhân khẩu học Mỹ, 1987) ước tính từ 30 triệu người chết.
Frank Dikötter (sử gia người Hà Lan, 2010) ít nhất 45 triệu người chết, trong đó nhiều người không phải chết vì đói đơn thuần, mà do tra tấn, hành quyết, cưỡng ép lao động.
Yang Jisheng (Dương Kế Thằng) – Cựu phóng viên Tân Hoa Xã, nhà sử học Trung Quốc trong tác phẩm: “Tombstone” (Mộ chí) ước tính: 36 triệu người chết.
Trong thời kỳ "Đại Nhảy Vọt" Mao Trạch Đông còn thi hành chính Cách Mạng Văn Hóa 1966 - 1976, sau thất bại của Đại Nhảy Vọt, uy tín Mao suy giảm nghiêm trọng, cảm thấy bị đe dọa bởi các lãnh đạo ôn hòa như Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình những người muốn sửa sai và cải cách.
Mao Trạch Đông phát động Cách mạng Văn hóa nhằm: “Làm trong sạch” tư tưởng của Đảng và xã hội theo mô hình cộng sản cực đoan để phục hồi quyền lực tuyệt đối.
Thành lập nên “Hồng vệ binh” đi khắp nơi đấu tố, đập phá, bắt bớ.
Giáo viên, trí thức, nghệ sĩ, nhà khoa học bị hành hạ, làm nhục, đưa về nông thôn vùng sâu vùng sa cải tạo lao động.
Đập phá chùa chiền, sách vở, tranh tượng cổ, hủy diệt văn hóa truyền thống.
Về Chính trị loại bỏ hàng triệu cán bộ cấp cao và trung, gây chia rẽ và khủng bố nội bộ Đảng.
Về Xã hội hàng triệu người bị đánh đập, giết hại hoặc tự sát, đảo lộn trật tự xã hội.
Về Giáo dục – Văn hóa trường học, đại học đóng cửa, giáo dục tê liệt gần 10 năm. Văn hóa truyền thống bị phá hoại.
Kinh tế Sản xuất đình trệ, kỹ thuật – khoa học bị thụt lùi. Nền kinh tế thụt lùi hơn 30 năm.
Tâm lý – đạo đức gây mất mát nghiêm trọng về niềm tin, đạo đức xã hội suy đồi.
Cho đến khi Mao Trạch Đông mất năm 1976 khi Đặng Tiểu Bình lên thay thì kinh tế Trung Quốc dần dần mới được phục hồi.
Còn về Liên Xô thì như đã nói Lennin mất Stalin lên thay, sau chiến tranh thế giới thứ hai Stalin trở thành độc tài lãnh đạo Liên Xô đối đầu với Mỹ về mặt khoa học rõ nhất là về vũ khí hạt nhân. Sau khi Stalin mất (05/031953) Nikita Khrushchev lên thay xoá bỏ chế độ độc tài của Stalin nắm quyền từ 1953–1964. Khrushchev bình thường hoá quan hệ với Mỹ, bước lên đường đua hàng không vũ trụ với Mỹ:
Phóng vệ tinh Sputnik (1957).
Gagarin bay vào vũ trụ (1961)
Đua xem ai là người bước lên mặt trăng đầu tiên và Mỹ thắng, NASA phóng tàu Apollo 11 đưa Neil Armstrong (người đầu tiên trên thế giới đặt chân lên mặt trăng) Buzz Aldrin, Michael Collins lên mặt trăng vào ngày 20 tháng 7 năm 1969.
Thi hành chính sách cải cách ruộng đất để gia tăng năng suất sản xuất nhưng thất bại.
Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Khrushchev cũng có khủng hoảng nghiêm trọng:
Khủng hoảng Berlin (1961).
Khủng hoảng tên lửa Cuba (1962) Liên Xô đặt tên lửa nhắm thẳng Mỹ trên đất Cuba dẫn đến Cuba bị Mỹ cấm vận 60 năm vẫn chưa được gỡ bỏ, trong thập niên 2020 của thời hiện đại nền kinh tế Cuba vẫn là nền kinh tế bao cấp.
Sau Khrushchev thì tiếp tục có Leonid Ilyich Brezhnev lên thay.
Leonid Ilyich Brezhnev vẫn giữ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung nhưng quan liêu hóa và bảo thủ, dẫn đến trì trệ.
Ban đầu tăng trưởng ổn định, nhưng từ cuối thập niên 1970 bắt đầu suy thoái rõ rệt: Thiếu đổi mới công nghệ, tham nhũng lan rộng.
Giới trẻ chán nản, mất niềm tin vào lý tưởng cộng sản.
Năng suất lao động thấp.
Đối ngoại:
Chi tiêu quốc phòng và viện trợ cho đồng minh quá lớn.
Can thiệp vào Tiệp Khắc (1968) Afghanistan (1979).
Căng thẳng với Mỹ tạo nên thời kỳ “Chiến tranh Lạnh đông cứng”.
Sau Brezhnev thì Yuri Vladimirovich Andropov (1982-1984) chủ trương chóng tham nhũng, cải cách kinh tế xã hội, vấn đề với Mỹ thì cứng rắn vì Mỹ đặt tên lửa vào Châu Âu.
Là người ủng hộ vũ khí hạt nhân làm căng thẳng gia tăng, có lúc cứ tưởng chiến tranh thế giới thứ ba sắp xảy ra. Nhưng ông chỉ lãnh đạo được 15 tháng thì qua đời những cải cách đang có hiệu quả cũng bị bỏ dỡ.
Tiếp theo Konstantin Chernenko – đại diện cho đường lối bảo thủ cũ trở thành nhà lãnh đạo của Liên Xô 1984 - 1985 thì qua đời.
Người kế nhiệm tiếp theo là Mikhail Gorbachev (1985-1991). Xoay quanh Mikhail Gorbachev có rất nhiều tranh cải.
Trong nước ông có 2 chính sách:
Perestroika (Cải tổ kinh tế):
Mở rộng quyền tự chủ cho doanh nghiệp nhà nước
Khuyến khích yếu tố thị trường, giảm kiểm soát trung ương
Cho phép một số hình thức sở hữu tư nhân (có giới hạn).
Glasnost (Cởi mở thông tin):
Tăng tự do báo chí, bãi bỏ kiểm duyệt
Cho phép phê phán lãnh đạo, công khai các sai lầm trong quá khứ (như Stalin)
Mở đường cho dân chủ hóa xã hội Xô Viết.
Chính sách đối ngoại: Cải thiện quan hệ với phương Tây, chấm dứt Chiến tranh Lạnh, rút quân khỏi Afghanistan, Không can thiệp vào các nước Đông Âu.
Nhưng cũng vì những chính sách này mà dẫn đến kinh tế hỗn loạn, lạm phát tăng cao, thiếu lương thực.
Mâu thuẫn sắc tộc, phong trào ly khai bùng phát
Đảng Cộng sản suy yếu nghiêm trọng, gián tiếp dẫn đến sự sụp đổ của các chế độ XHCN tại Đông Âu.
Cuối cùng dẫn tới sự sụp đổ của Liên Xô năm 1991.
Sau khi Liên Xô sụp đổ vào ngày 26/12/1991, 15 nước cộng hòa thuộc Liên Xô trở thành quốc gia độc lập:
1. Liên Bang Nga kế thừa chính của Liên Xô (ghế LHQ, vũ khí hạt nhân).
2. Ukraina (Ukraine)
3. Belarus
Các nước vùng Baltic: Đã gia nhập EU và NATO từ 2004.
4. Estonia.
5. Latvia.
6. Litva (Lithuania).
Các nước vùng Kavkaz (Caucasus): Khu vực có nhiều xung đột sắc tộc sau khi độc lập.
7. Gruzia (Georgia)
8. Armenia
9. Azerbaijan
Các nước Trung Á: Nhiều nước vẫn có chế độ cầm quyền độc đoán
10. Kazakhstan
11. Uzbekistan
12. Turkmenistan
13. Kyrgyzstan
14.Tajikistan
15. Moldova: Có vùng ly khai Transnistria thân Nga.
Sau khi Nga thành lập cũng không khá hơn là bao, kinh tế rơi vào khủng hoảng trầm trọng, suy thoái kéo dài, lạm phát, thất nghiệp, mất an sinh xã hội.
Nga suy yếu nghiêm trọng về quân sự, kinh tế và uy tín toàn cầu trong thập niên 1990.
Chiến tranh Lạnh kết thúc, Mỹ trở thành siêu cường duy nhất.
NATO và EU mở rộng sang Đông Âu, bao gồm các quốc gia từng là đồng minh của Liên Xô.
Cho đến khi Vladimir Putin lên nắm quyền từ năm 2000 kinh tế, chính trị và quân sự phục hồi mạnh mẽ.
Năm 1998 Nga thoát khỏi khủng hoảng,tăng trưởng mạnh mẽ, từng bước lấy lại vị thế cường quốc, nhưng đồng thời cũng đối mặt với mâu thuẫn sâu sắc với phương Tây.
Tóm lại: Trung Quốc độc lập nhưng trong 30 năm 1946 -1976 tự biến mình từ một trong năm nước lớn của Liên Hợp Quốc thành trò cười cho cả thế giới, nền kinh tế thụt lùi 30 năm.
Liên Xô lại đánh mất vị thế siêu cường trên trường quốc tế để Mỹ độc hành, cho đến nay Hàn Quốc, Nhật Bản, Châu Âu, Nam Mỹ, Nam Phi đều là sân sau, là nơi cung cấp tài nguyên giá rẻ của Mỹ. Cả Trung Quốc cũng từng trở thành thị trường tiêu thụ, nơi cung cấp nguyên liệu thô giá rẻ.
Liên Bang Nga trước khi Putin lên làm tổng thống thì như một cái rổ bị cầm quyền bởi giới tài phiệt, tất cả các nguồn tiền, nhân công đều nằm trong tay họ, mà những nhà tài phiệt có lại có quan hệ rất tốt với Châu Âu và EU.
Còn Việt Nam thì sao, ngoài những hậu quả cải cách ruộng đất, tịch thu nhà cao trên hai tầng năm 1953 đã nói thì năm 1954 sự kiện Chúa đi bộ mà người đời sau gọi là sự kiện di dân Bắc 54 diễn ra, hơn 1 triệu người dân theo đạo Công giáo, di cư vào Sài Gòn, Biên Hòa, Đà Lạt,...
Một phần là do nghe theo lời tuyên truyền sai, một phần là sự hứa hẹn giàu có của chính quyền miền Nam Ngô Đình Diệm.
1 triệu lực lượng lao động sản xuất mất đi, tiếp theo đến khi thống nhất 1975 lại có hơn 2 triệu người vì sợ hãi bị tịch thu tài sản, sợ bị tra tấn do theo phe địch trốn sang Mỹ, Úc, Châu Âu bằng những chuyến tàu vượt đại dương.
Điều quan trọng nhất là sau những thất bại của cải cách đến năm 1986 Việt Nam mình mới bắt đầu có sự thay đổi mới, tức cười nhất là 1977 Việt Nam đã được gia nhập Liên Hợp Quốc rồi đấy mà vẫn chưa có sự giúp đỡ cụ thể nào, hơn nữa còn bị cuốn vào 2 trận chiến.
Polpot năm 1978-1991 ở Campuchia, Polpot (Khrme đỏ) với sự hậu thuẫn của Trung Quốc muốn dùng 2 triệu người Khrme đổi lấy 20 triệu người Việt Nam, nguyên nhân Trung Quốc hậu thuẫn là do Việt Nam ngã hoàn toàn về phía Liên Xô, khi Trung Quốc và Liên Xô đang căng thẳng.
Chiến tranh biên giới phía Bắc với Trung Quốc năm 1979, Trung Quốc tấn công 6 tỉnh Lào Cai, Cao Bằng, Hà Giang, Lai Châu, Lạng Sơn, Quảng Ninh.
Nguyên nhân là Việt Nam lật đổ chế độ Khmer Đỏ đe dọa ảnh hưởng của Trung Quốc tại Đông Nam Á.
Còn nguyên nhân thật sự là Tổng bí thư Lê Duẩn đã đoán trước Trung Quốc muốn thành lập một khu tự trị người Hoa ở Việt Nam, ông sợ kinh tế Việt Nam sẽ rơi vào tay Trung Quốc như cách Trung Quốc làm với Thái Lan, Singapore, Malaysia, nên đã ra điều luật ép hàng chục nghìn người Hoa rời khỏi Việt Nam.
Năm 1988, Trung Quốc lại cho quân tấn công đảo Gạc Ma ở Trường Sa, bắn chìm tàu HQ-604, giết chết 64 chiến sĩ công binh tại đó, đến 2025 mà Việt Nam vẫn chưa thể lấy lại lãnh thổ Trường Sa. Trung Quốc còn công bố bản đồ đường lưỡi bò muốn chiếm luôn hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam, dù Việt Nam đã đưa rất nhiều bằng chứng chứng tố cáo lên Liên Hợp Quốc nhưng tình hình tại Biển Đông vẫn không có cải thiện.
Đến ngày 2/5/2024 Trung Quốc lại huy động 80 tàu chiến hộ tống xây dựng giàn khoan 981 chỉ cách đảo Lý Sơn 120 hải lý, toạ độ cụ thể 15°29′58″ vĩ Bắc, 111°12′06″ kinh Đông, thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
Sau nhiều biện pháp đấu tranh hoà bình, lên án hành động của Trung Quốc lên Liên Hợp Quốc và toà án quốc tế đến ngày 15/07/2014 giàn khoan 981 đã bị Trung Quốc rút về.
Nếu lúc đó quốc lực của Việt Nam không bị thụt lùi thì khi những sự kiện đó xảy ra Việt Nam còn phải trái lo phải nghĩ mà nhờ đến Quốc tế hay sao?
Hay như lời của lời nói của tổng bí thư Lê Duẩn ra lệnh cho thiếu tướng Hoàng Đan:
"Phải san phẳng thành phố Bằng Tường để trả đũa việc Trung Quốc chiếm thị xã Lạng Sơn".
Hay như lời của thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh con Cổ Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã muốn nã thẳng tên lửa vào giàn khoan 981: "Điều gì có thể nhịn thì nhịn, nhưng nếu động vào điểm mấu chốt: độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ thì không bao giờ tôi nhịn.
Nếu họ đem chiến tranh đến thì ta buộc phải bảo vệ đất nước."
Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh cũng cảnh cáo: "Trung Quốc hãy suy nghĩ thật kỹ và dừng lại."
Dựa núi núi đổ, dựa cây cây ngã, Việt Nam muốn tự cường phải dựa vào chính mình, không được phụ thuộc vào bất cứ ai.
Trên đời này không có kẻ thù nào là mãi mãi cũng không có đồng minh nào là mãi mãi, chỉ có lợi ích mới là trường tồn. Việt Nam có vị thế trên trường quốc tế là do nắm giữ đủ lợi ích làm người phải dè chừng.
Mà muốn bảo vệ lợi ích đó thì phải mạnh, mạnh về quân sự, khí tài, mạnh về kinh tế sản xuất, mạnh về ngoại giao chính trị..