Nhân GianChương 11

Chương 11: Tế Thập Loại Chúng Sinh.

Nghe truyện

Chương 11: Tế Thập Loại Chúng Sinh.

Sáng sớm..

Mặt đất phủ đầy sương trắng, như thiếu nữ tinh nghịch rải bông Mộc Miên lên tấm thảm màu tro, cảnh vật mông mị nhưng tươi mới, cả thế gian đón bình minh bằng trạng thái tinh khiết nhất.

Không khí hơi tê tái, thỉnh thoảng có cơn gió lạnh đi ngang vô ý cắt lên da thịt, làm rung rinh giọt sương đọng trên lá liễu, nó đang bình tĩnh góp nhặt, hy vọng hoá thành hạt nước lớn, nhưng rồi trượt dài rơi xuống, kết thúc một vòng sinh mệnh.

Nó luôn ở đó, vẫn cố chấp như vậy, từ ngày này qua tháng khác, nhưng tất cả nỗ lực cũng chỉ để nuôi dưỡng một hạt mầm chôn sâu phía dưới.

Kinh Trập.

Sau mùa đông lạnh giá là thời khắc vạn vật thức tỉnh.

Thiên địa chuyển mình, sâu bọ từ dưới mặt đất bắt đầu chui lên, phần thì đóng kén hoá bướm bung đôi cánh rực rỡ tung hoành trong trời đất, phần lại trở thành thức ăn cho chim chóc gia cầm.

Cùng một chi loài như số phận khác biệt, đó là chỗ bất công của tạo hoá, con người thường không thấy những điều này, không lấy đó làm an ủi, chỉ chăm chăm vào lợi ích bản thân

Tuyết Sinh dậy sớm, ở giữa sân múa một bài quyền dưỡng sinh, vui vẻ hấp thu linh khí trong trời đất, tất cả cảnh vật trong mắt hắn đều có quy luật riêng biệt, như tự nhiên diễn hoá mà thành, đều bao hàm một chữ "Đạo".

Đến bước này Tuyết Sinh biết âm đức đã đủ, đạo hạnh có thể đột phá, bất cứ lúc nào cũng có thể xuống Minh Phủ dựng bài vị Thiên Sư.

"Trăm năm âm đức, cuối cùng cũng tích góp xong!".

Mặt trời bắt đầu vượt qua đỉnh núi, khi ánh nắng đầu tiên rơi xuống nhân gian, trong mắt Tuyết Sinh cũng hiện lên tia sáng.

"Sắp được nhìn thấy lão sư rồi!" Tuyết Sinh mỉm cười, thì thầm.

Tích góp đủ âm đức là một chuyện, dựng bài vị Thiên Sư lại là một chuyện khác, quá trình bắt buộc linh hồn rời khỏi thể xác, theo thần thức xuống Minh Phủ, trải qua nhiều thử thách mới có thể trở thành Thiên Sư chân chính.

Xuất hồn, phải có người hộ đạo, bởi Quỷ Vật rất thèm khát thân thể Thiên Sư.

Giữa lòng bàn tay Tuyết Sinh nắm chặt một chiếc lá làm từ ngọc bích, bên trên khắc chìm hai chữ "Mặc Diệp" đó là minh hiệu của lão sư, minh hiệu là phong hào trên bài vị Thiên Sư, còn đạo hiệu do người trong nhân gian gọi, vật này chính là thẻ bài thân phận để thông hành Minh Giới.

Tuyết Sinh ngẩn người, trong đầu có vô vàn dự tính, mãi cho đến khi mặt trời treo ở lưng chừng tầm nhình, hắn mở mắt, lắng nghe tiếng kèn Bát Âm từ đằng xa vọng lại.

Thanh âm rất thê lương, dù phường Bát Âm chỉ có một giai điệu duy nhất, nghe mãi thành quen nhưng mỗi lần đều có thể khiến người ta rùng mình.

Tiếng mõ Song Lang dồn dập, tiếng Sanh Tiền leng keng, đột nhiên, một tiếng kèn bầu cao vút kèm theo tiếng khóc thét thương tâm, hết thảy như hoá thành một giai điệu "Tống Tiễn!".

Tuyết Sinh lắc đầu thở dài, nghe nhịp điệu phường Bát Âm hắn có thể đoán được đại khái.

"Có lẽ tối nay sẽ tổ chức Cầu Siêu! Lão trưởng thôn nhờ cậy, cũng nên giúp gia đình bọn họ một chút!".

Đã nhìn thấy quá nhiều chuyện sinh tử, gặp qua vô số vong hồn, Tuyết Sinh biết việc tang sự lễ bái chỉ an ủi người còn sống, đối với người đã khuất, tất cả đều vô dụng.

Hắn hiểu đạo, hiểu luân hồi sinh tử, hiểu rằng cái chết kỳ thực là một kiếp sống khác.

Như con sâu đóng kén ngủ say đó là cái chết của nó, nhưng từ bỏ xác phàm xấu xí để hoá thành cánh bướm rực rỡ, là những thứ xảy ra sau khi chết.

Tất nhiên cái chết là một quá trình thống khổ, bởi bị chi phối từ nhân quả nghiệp lực, như sâu non bó mình trong kén cũng là đang chịu đựng nỗi khổ này.

Con người thường sợ hãi bóng tối vì không biết sau bóng tối sẽ xuất hiện thứ gì, sợ hãi cái chết là vì không biết sau cái chết phải đi về đâu.

Mà nhiệm vụ của Phương Sĩ là chỉ dẫn cho người chết, còn cúng bái lễ nghi thường là việc của Pháp Sư nhân gian.

Tuyết Sinh vào nhà, ngồi xuống giường gỗ phong bế giác quan, yên lặng nhập định, chân bắt kiết già, tay giữ ấn hoa sen, thi triển Ngoại Khí Thuật chậm rãi hấp thu linh khí mỏng manh trong trời đất.

Thao tác này hắn đã làm vô số lần, nhuần nhuyễn tự nhiên đến mức cơ thể hoà cùng không gian, cả căn nhà dường như trở nên mơ hồ, toả ra một cỗ vận vị thâm trầm, cổ phác.

Ngoại Khí Thuật là pháp môn rèn luyện thân thể, gồm ba cảnh giới.

Luyện da, luyện xương, tẩy tủy.

Tuyết Sinh hiện tại là đỉnh cao Phương Sĩ, từ lâu đã vượt qua giai đoạn tẩy tủy, bước vào Nội Khí tầng cuối, đối với hắn, Ngoại Khí không còn nhiều tác dụng.

Lão sư nói: Cảnh giới tẩy tủy của Phương Sĩ tương ứng tu vi Luyện Khí tầng thứ nhất bên phía tu sĩ Đại Càn.

Còn Nội Khí viên mãn, tương đương Luyện Khí đỉnh phong.

Hai hệ thống khác biệt.

Phương Sĩ rèn luyện thân thể đến mức độ nhất định sẽ từ bỏ bước tiếp theo, chuyển sang Nội Khí, chủ yếu ôn dưỡng thần hồn, đi theo đường Âm Thần.

Tu sĩ Đại Càn lại chú trọng thân thể, hệ thống tu hành rối rắm, trong sách cổ viết: Trên Luyện Khí còn có Trúc Cơ, Kết Đan.. Đi lối Dương Thần.

Đường Dương Thần là Ngũ Hành Đại Đạo.

Đường Âm Thần là Thiên Địa Đại Đạo.

Cả hai dù khác bản chất nhưng chung nguồn gốc, sở dĩ Phương Sĩ coi trọng ôn dưỡng thần hồn, bởi vì thân thể có giới hạn nhưng thần hồn thì bất diệt, đường Âm Thần chính là điểm cuối, nơi trăm sông đổ về một biển.

Nhìn sang tu sĩ Đại Càn, dù bọn họ tu hành đến cảnh giới cao siêu gì chăng nữa cũng chỉ có thể kéo dài tuổi thọ, trường sinh mà thôi, không thể nào bất tử..

Trừ khi có người vượt qua được Thiên Môn.

Một điển tịch từng nói: Muốn thấy Thiên Môn buộc tu hành cùng lúc bốn đạo thống lớn trong thiên hạ, là Thiên Địa, Ngũ Hành, Âm Minh, Hương Hoả, tất cả phải đồng thời đạt đến chí cực, khi đó Thiên Môn sẽ tự động mở ra.

Nhưng việc này là vô cùng bất khả thi, không ai biết được đạo thống mà mình tu hành liệu có điểm cuối hay không.

Đó là những hiểu biết mà Tuyết Sinh góp nhặt từ lời dạy của lão sư kết hợp kiến thức trong sách cổ, chỉ là truyền khẩu, chưa được kiểm chứng.

Trời tối.

Tuyết Sinh khoác đạo bào Phương Sĩ, theo tang quyến ra bến sông Ô Lâu.

Lễ cúng đã được chuẩn bị, xếp ngay ngắn trên hương án, phía trước đặt linh vị, chuối xanh, hoa cúng, tất cả hướng ra bờ sông.

Mưa tạnh, nước sông tuy vẫn còn đục ngầu nhưng đã rút bớt, bốn phía phẳng lặng an tĩnh, thỉnh thoảng có tiếng gió quét xì xào sau bụi lau sậy.

Tuyết Sinh đứng trước hương án, trầm mặc nhìn mặt nước, bờ bên kia có một chiếc thuyền gỗ đang lướt sóng, văng vẳng tiếng hát khi gần khi xa.

Đạo bào màu trắng, ống tay áo thêu hai đường chỉ vàng, ánh trăng chiếu rọi tạo thành một tia kim tuyến hắt lên hương án.

Tuyết Sinh đốt nhang, một tay cầm giấy phù quăng về phía trước, cả người thẳng tắp nghiêm nghị.

Giấy phù màu vàng bị gió cuốn đi, bay quá nửa sông đột nhiên bốc cháy.

"Thủy Bá! Ở dưới có linh hồn người phàm tên gọi Lê Thanh hay không?" Tuyết Sinh lẩm bẩm, thần thức rơi xuống mặt nước.

Chiếc thuyền gỗ phía xa dừng lại, lúc lâu mặt nước xuất hiện cơn sóng cuốn về phía bờ, bóng nước nổ tung, một giọt rơi trên trán Tuyết Sinh:" Thiên Sư! Hồn hắn đã bị Quỷ Tiên ăn mất!" Giọt nước mang theo âm thanh của Thủy Bá.

Trong lòng Tuyết Sinh có ý nghĩ dẫn độ linh hồn người mất về Minh Phủ, được Phương Sĩ chỉ điểm, đoạn đường sẽ bớt đi rất nhiều gian khổ, nhưng đáng tiếc!.

Như hắn nhận định, việc cầu siêu gọi hồn này vô nghĩa, chỉ có tác dụng an ủi người sống mà thôi.

Tuyết Sinh không nói ra sự thật, bình tĩnh nhìn gia quyến, thấy một người phụ nữ mặc tang phục, đầu buộc khăn trắng, bên cạnh còn có hai đứa trẻ một trai một gái.

"Người chết đã chết, người sống vẫn phải sống tiếp, không cần quá thương tâm!" Tuyết Sinh nhẹ nhàng xoa đầu hai đứa bé, chỉ dẫn gia quyến lùi về phía sau, giữ im lặng.

Tuyết Sinh nhìn sinh thần bát tự, biết rõ người chết đã hết dương thọ, không nhất thiết phải dẫn độ, nhưng chưa từng nghĩ tới linh hồn lại bị Quỷ Vật ăn mất.

Người hết dương thọ sẽ được Quỷ Sai dẫn đi, muốn tồn tại thêm một khắc ở dương gian cũng không được, còn trường hợp này..Đó là mệnh số của đối phương, Âm Thần không quản, hắn cũng không giúp nổi.

Tuyết Sinh thở dài, trên mặt hiện lên một tia áy náy.

Cuối cùng đành nói với gia quyến: Linh hồn người mất đã về Minh Phủ coi như siêu thoát.

Mượn lễ này tế Thập Loại Chúng Sinh!.

Không ai dám nghi ngờ lời nói của Thiên Sư, gia quyến cũng trút bỏ được gánh nặng.

Mà thôn này quả thực tang tóc, người chết quá nhiều, đủ loại chúng sinh thảm thiết.

Dưới sông thi thể chất đầy, trên bờ có người bị sét đánh, vô số người chết cháy, chết đói sau thảm hoạ Thiên Hoả năm đó.

Quỷ Hồn biết thiên sư làm lễ tế bắt đầu tụ tập kéo về, dưới nước đi lên, trên rừng đi xuống, tràng cảnh vô cùng doạ người.

Nếu có ai đó mở được mắt âm dương sẽ nhìn thấy mấy ngàn hồn ma chật ních phía trước hương án, quỳ lạy, khóc van.

Tuyết Sinh thắp một bó nhang lớn, chia cho mấy người cắm dọc bờ sông.

Trịnh trọng chắp tay, bắt đầu đọc lớn.

"Tiết Kinh Trập mưa dầm sùi sụt, toát hơi may lạnh buốt xương khô, não người thay buổi chiều thu, ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng".

"Đường bạch dương bóng chiều man mác, ngọn đường lê lác đác sương sa, lòng nào là chẳng thiết tha, cõi dương còn thế nữa là cõi âm".

"Trong trường dạ tối tăm trời đất, có khôn thiêng phảng phất u minh, thương thay thập loại chúng sinh, hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người"

"Hương khói đã không nơi nương tựa, hồn mồ côi lần giữa đêm đen, còn đâu ai quý ai hèn, còn đâu mà nói ai hiền ai ngu, tiết đầu xuân lập đàn giải thoát, nước tĩnh bình rưới hạt dương chi, muôn nhờ Minh Đế từ bi, giải oan, cứu khổ, hồn về âm gian"

"Cũng có kẻ tính đường kiêu hãnh, chí những năm cướp gánh non sông, nói chi những buổi tranh hùng, tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau"

"Bỗng phút đâu mưa sa ngói lở, không đem mình làm kẻ thất phu, lớn sang giàu nặng oán thù, máu tươi lai láng, xương khô rã rời, đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc, quỷ không đầu than khóc đêm mưa, cho hay thành bại là cơ, mà cô hồn biết bao giờ cho tan!"

"Cũng có kẻ màn lan trướng huệ, những cậy mình cung quế vàng son, một phen thay đổi sơn hà, mảnh thân chiếc lá biết là về đâu? Trên lầu cao dưới cầu nước chảy, phận đã đành trâm gãy bình rơi, khi sao đông đúc, vui cười..Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương"

"Đau đớn lẽ không hương không khói, dạ ngẩn ngơ dòng suối rừng sim, thương thay chân yếu tay mềm, càng năm càng héo, một đêm một sầu"

"Kìa những kẻ mũ cao áo rộng, ngọn bút son thác sống ở tay, kinh luân găm một túi đầy, đã đêm Quản Cát lại ngày Y Chu! Thịnh mãn lắm oán thù càng lắm, trăm loài ma mồ nấm xung quanh, nghìn vàng không đổi được mình, lầu ca, viện hát, tan tành còn đâu?"

"Kẻ thân thích vắng sau vắng trước, biết lấy ai bát nước nén nhang, cô hồn thất thểu dọc ngang, nặng oan không lẽ tìm đường hoá sinh?"

"Kìa những kẻ bài binh bố trận, đem mình vào cướp ấn nguyên nhung, gió mưa sấm sét đùng đùng, dãi thây trăm họ nên công một người, khi thất thế tên rơi đạn lạc, bãi sa trường thịt nát máu rơi, bơ vơ góc bể chân trời, nắm xương vô chủ biết vùi nơi nao?".

"Trời thăm thẳm mưa gào gió thét, khí âm huyền mờ mịt trước sau, ngàn mây nội cỏ sầu sầu, nào đâu điếu tế, nào đâu chung thường? Cũng có kẻ tính đường trí phú, mình làm mình nhịn ngủ kém ăn, ruột rà không kẻ chí thân, dẫu làm nên để dành phần cho ai?"

"Khi nằm xuống không người nhắn nhủ, của phù du dẫu có mà không, sống thì tiền chảy bạc ròng, thác không đem được một đồng nào đi, khóc ma mướn, thương gì hàng xóm, hòm gỗ đa bó đóm đưa đêm, ngẩn ngơ trong quãng đồng chiêm, nén hương giọt nước, biết tìm vào đâu?"

"Cũng có kẻ rắp cầu chữ quý, dấn mình vào thành thị lân la, mấy thu lìa cửa lìa nhà, văn chương đã chắc đâu mà trí thân"

"Dọc hàng quán phải tuần mưa nắng, vợ con nào nuôi nấng khem kiêng, vội vàng liệm sấp chôn nghiêng, đệ huynh thiên hạ láng giềng người dưng"

"Bóng phần tử xa chừng hương khúc, bãi tha ma kẻ dọc người ngang, cô hồn nhờ gửi tha phương, gió trăng hiu hắt, lửa hương lạnh lùng"

"Cũng có kẻ vào sông ra bể, cánh buồm mây chạy xế gió đông, gặp cơn giông tố giữa dòng, đem thân vùi lấp vào lòng kình nghê, cũng có kẻ đi về buôn bán, đòn gánh tre chín dạn hai vai, gặp cơn mưa nắng giữa trời, hồn đường phách sá lạc loài nơi nao?"

"Cũng có kẻ mắc vào khoá lính, bỏ cửa nhà đi gánh việc quan, nước khe cơm ống gian nan, dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời, buổi chiến trận mạng người như rác, phận đã đành cung lạc tên rơi, lập loè ngọn lửa ma trơi, tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương"

"Cũng có kẻ lỡ làng một kiếp, liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa, ngẩn ngơ khi trở về già, đâu chồng con nữa biết là cậy ai? Sống đã chịu một đời phiền não, thác lại nhờ hớp cháo lá đa!"

"Cũng có kẻ nằm cầu gối đất, dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi, thương thay cũng một kiếp người, sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan! Cũng có kẻ mắc oan tù rạc, gửi mình vào chiếu rách một manh, nắm xương chôn rấp góc thành, kiếp nào cởi được oan tình ấy đi?.

"Kìa những đứa tiểu nhi tấm bé, lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha, lấy ai bồng bế vào ra, U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng!".

"Kìa những kẻ chìm sông lạc suối, cũng có người sẩy cối sa cây, có người leo giếng đứt dây, người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành, người thì mắc sơn tinh thuỷ quái, người thì sa nanh sói ngà voi, có người hay đẻ không nuôi, có người sa sẩy, có người khốn thương".

"Gặp phải lúc đi đường lỡ bước, cầu Nại Hà kẻ trước người sau, mỗi người một nghiệp khác nhau, hồn xiêu phách tán biết đâu bây giờ? Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi, hoặc là nương ngọn suối chân mây, hoặc là bụi cỏ bóng cây, hoặc nơi quán nọ cầu này bơ vơ, hoặc là nương thần từ, miếu tự, hoặc là nơi đầu chợ cuối sông, hoặc là trong quãng đồng không, hoặc nơi gò đống, hoặc vùng lau tre"

"Sống đã chịu nhiều bề thảm thiết, gan héo khô dạ rét căm căm, dãi dầu trong mấy mươi năm, thở than dưới đất, ăn nằm trên sương, nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn, lặn mặt trời lẩn thẩn tìm ra, lôi thôi bồng trẻ dắt già, có khôn thiêng lẽ lại mà nghe kinh".

"Cuối cùng nhìn thấy Âm Minh, Quỷ Sai dẫn dắt chúng sinh về nhà!".

"Phục thị cẩn cáo!".

Đọc xong văn tế Thập Loại, Tuyết Sinh tung một nắm giấy vàng lên giữa trời, nếu có linh hồn lang thang nào may mắn bám vào giấy vàng sẽ được tiếp dẫn xuống Âm Minh.

Tuyết Sinh đã tận lực, hắn chỉ có thể làm được đến đây..